Điều 2.
Giao dịch chứng khoán nơi công chúng, sau đây gọi là “ giao dịch nơi công chúng” là đề nghị chào bán hoặc việc chào bán chứng khoán được phát hành theo đợt thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc hình thức khác nếu như việc chào bán nói trên là nhằm mục đích bán cho hơn 300 người hoặc cho người mua không được nêu rõ...
Điều 61.
Sự chấp thuận của Uỷ ban là bắt buộc khi đưa chứng khoán ra giao dịch nơi công chúng, theo Điều 62 và 63.
Điều 62.
1. Chứng khoán do Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Quốc gia Ba lan phát hành được chấp thuận giao dịch nơi công chúng theo luật.
2. Tổ chức phát hành phải thông báo cho Uỷ ban về việc phát hành các chứng khoán đề cập đến tại khoản 1.
Điều 65. Việc chấp thuận chứng khoán ra giao dịch nơi công chúng đồng nghĩa với việc chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng những quyền sở hữu có thể chuyển nhượng được phát sinh từ những chứng khoán này.
Điều 65a. Sự chấp thuận cho cổ phiếu ra giao dịch nơi công chúng đồng nghĩa với sự chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng những quyền phát sinh từ những chứng khoán này.
Điều 68.
1. Để có được sự chấp thuận đối với việc lưu hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành nộp đơn xin cấp phép đến Uỷ ban thông qua công ty môi giới hoặc ngân hàng thực hiện các hoạt động môi giới, đơn gồm những nội dung như sau:
1) tên giao dịch của tổ chức phát hành và trụ sở chính,
2) dữ liệu cơ bản về chứng khoán nói đến trong đơn và chi tiết hơn về số lượng chứng khoán, loại chứng khoán, mệnh giá, giá phát hành hoặc giá bán dự kiến và ngày bán dự kiến,
3) thông tin chi tiết về công ty môi giới hoặc ngân hàng thực hiện các hoạt động môi giới mà sẽ chào bán chứng khoán nêu trong đơn,
4) tên bộ phận độc lập của ngân hàng thực hiện các hoạt động môi giới.
2. Đơn xin cấp phép phải được gửi cùng với các tài liệu sau:
1) bản cáo bạch phát hành theo quy định của pháp luật, sau đây gọi là “bản cáo bạch” và bản cáo bạch sơ bộ, theo quy định tại k 4,
2) quy chế, điều lệ công ty hoặc một số tài liệu khác theo quy định của pháp luật về việc thành lập, hoạt động và tổ chức của tổ chức phát hành,
3) quyết định được thông qua bởi bộ phận ra quyết định của tổ chức phát hành, và trong trường hợp công ty cổ phần là nghị quyết được đại hội đồng cổ đông thông qua việc phát hành và lưu hành chứng khoán ra công chúng,
4) trong trường hợp chứng khoán phát hành dưới hình thức chứng chỉ, giấy chứng nhận về việc đã lưu ký chứng chỉ chứng khoán tại tổ chức lưu ký theo quy định tại khoản 1 Điều 67, hoặc chứng nhận về việc đã được đăng ký bởi chủ thể quy định tại khoản 3 Điều 67,
5) bằng chứng về việc chi trả phí đăng ký cho việc ghi sổ vào sổ đăng ký đề cập đến tại Điều 88.
3. Phí đăng ký đề cập tại điểm 5 khoản 2 được hoàn trả nếu như hồ sơ không được xem xét hoặc nếu như tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh rút hồ sơ.
Điều 72.
1. Quyết định chấp thuận cho chứng khoán lưu hành nơi công chúng được Uỷ ban ban hành trong vòng 2 tháng kể từ khi nộp đơn xin cấp phép.
2. Trong quyết định nêu tại khoản 1, Uỷ ban có thể, theo yêu cầu của tổ chức phát hành, không bắt buộc tổ chức phát hành phải thực hiện nghĩa vụ công bố, trong bản cáo bạch, bất kỳ thông tin nào mà việc công bố nó sẽ làm tổn hại đến lợi ích về mặt kinh doanh của tổ chức phát hành hoặc lợi ích của những người làm việc trong các tổ chức quản lý hoặc kiểm soát tổ chức phát hành, với điều kiện là việc huỷ bỏ nghĩa vụ này không gây cho người đầu tư sự hiểu lầm trong việc đánh giá những sự việc và trường hợp có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ.
3. Trong trường hợp quyết định nêu tại khoản 1 liên quan đến chứng khoán phát hành bởi một chủ thể có trụ sở chính tại một quốc gia thành viên và chưa được chấp thuận cho giao dịch tại một thị trường chính thức có quản lý tại một quốc gia thành viên, Uỷ ban sẽ đưa ra quyết định sau khi nhận được ý kiến bằng văn bản của cơ quan giám sát đã chấp thuận cho chứng khoán khác của tổ chức phát hành được giao dịch tại một thị trường chính thức có quản lý tại quốc gia thành viên đó.
4. Uỷ ban có thể từ chối không ra quyết định chấp thuận nêu tại khoản 1 nếu:
1) nội dung của những tài liệu quy định tại các điểm từ 1 đến 3 khoản 2 Điều 68 không đáp ứng được các yêu cầu theo quy định của pháp luật, hoặc
2) theo ý kiến đề cập đến tại khoản 3, tổ chức phát hành không hoàn thành được các nghĩa vụ phát sinh liên quan đến việc chấp thuận chứng khoán khác được giao dịch tại thị trường chính thức có quản lý tại một quốc gia thành viên được quy định tại luật quốc gia thành viên đó.
Điều 75.
Hội đồng Bộ trưởng quy định bằng nghị định thời gian có hiệu lực của bản cáo bạch, khoảng thời gian mà sau khi bản cáo bạch và bản cáo bạch sơ bộ đã được công bố, việc bán hoặc đặt mua chứng khoán có thể bắt đầu; số lượng bản sao bắt buộc của bản cáo bạch, cũng như các địa điểm, khoảng thời gian và phương thức mà qua đó bản cáo bạch và bản cáo bạch sơ bộ sẽ được cung cấp cho công chúng. Bản cáo bạch và bản tóm tắt bản cáo bạch cần được cung cấp rộng rãi cho công chúng theo phương thức cho phép các nhà đầu tư đánh giá được tình hình kinh tế và tài chính về quy mô của đợt chào bán, phương thức đưa chứng khoán ra giao dịch nơi công chúng và các bên có liên quan của đợt chào bán.
Điều 79.
1. Sau khi nhận được sự chấp thuận đưa chứng khoán ra giao dịch nơi công chúng hoặc sau khi gửi thông báo đề cập đến tại Điều 63, tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành phải công bố bản cáo bạch ra công chúng và công bố bản cáo bạch sơ bộ theo phương thức nói đến tại Điều 75
2. Tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phải cung cấp ngay thông tin cho Uỷ ban về các thay đổi về dữ liệu nêu trong bản cáo bạch và đưa những sửa đổi này vào bản cáo bạch và bản cáo bạch sơ bộ trước ngày phân phối bản cáo bạch.
3. Những thông tin công bố ra công chúng của tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh không được trái với những thông tin nêu trong bản cáo bạch hoặc bản cáo bạch sơ bộ.
Điều 81.
1. Bắt đầu từ ngày bản cáo bạch công bố ra công chúng, tổ chức phát hành phải cung cấp đồng thời các thông tin sau cho Uỷ ban và công ty quản lý sở giao dịch nơi chứng khoán của tổ chức phát hành được niêm yết hoặc cung cấp cho công ty quản lý thị trường phi tập trung của chứng khoán này:
1) tất cả các thông tin dẫn đến sự thay đổi về nội dung của bản cáo bạch trong thời gian có hiệu lực,
2) thông tin về bất kỳ sự kiện nào có thể ảnh hưởng lớn đến giá hoặc giá trị của chứng khoán,
3) thông tin hiện hành và định kỳ
- và công bố ra công chúng 20 phút sau khi cung cấp các thông tin này cho các chủ thể nói trên.
1a. Phương thức mà thông tin nói đến tại Khoản 1 được công bố ra công chúng sẽ do Uỷ ban quy định. Uỷ ban sẽ bổ nhiệm, dưới hình thức quyết định, một chủ thể chịu trách nhiệm công bố thông tin này, sau đây gọi là "đại diện thông tin"
2. Tổ chức phát hành phải nộp thông tin đề cập tại điểm 1 và 2 Khoản 1 ngay sau khi xảy ra sự việc hoặc ngay sau khi biết được sự việc xảy ra trong vòng 24 giờ.
3. Trong trường hợp thông tin nói đến tại điểm 1 khoản 1 có thể ảnh hưởng lớn đến giá hoặc giá trị của chứng khoán, tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành phải công bố thông tin trên tại ít nhất một trong những nhật báo mà đã công bố bản cáo bạch sơ bộ trong vòng 7 ngày sau khi có được thông tin này.
4. Nếu như việc thực hiện nghĩa vụ nói đến tại khoản 1 và 2 có thể ảnh hưởng lớn đến lợi ích kinh doanh của tổ chức phát hành, tổ chức phát hành có thể chỉ nộp các thông tin theo yêu cầu cho Uỷ ban cùng với đơn xin được miễn nghĩa vụ cung cấp các thông tin này cho các chủ thể còn lại nêu tại khoản 1. Trong trường hợp đơn này không được chấp thuận, Uỷ ban có thể chuyển các thông tin nói trên đến các chủ thể này với chi phí do tổ chức phát hành chi trả.
4a. Bất kỳ thay đổi nào đối với các thông tin trong bản cáo bạch liên quan đến các thủ tục đặt mua hoặc bán chứng khoán nêu trong bản cáo bạch sẽ phải được sự chấp thuận của Uỷ ban.
5. Hội đồng Bộ trưởng sẽ quyết định, bằng nghị định, về loại, hình thức và phạm vi của các thông tin hiện hành và định kỳ nói đến tại điểm 3 khoản 1, và ngày mà các thông tin này được nộp bởi tổ chức phát hành bất kỳ chứng khoán nào được chấp thuận:
1) cho giao dịch tại một sở giao dịch chứng khoán chính thức quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 90,
2) cho giao dịch nơi công chúng nhưng không được giao dịch tại một thị trường có quản lý.
Nghị định nói trên phải quy định rõ phạm vi thông tin và lịch trình nộp các thông tin đối với mỗi loại thị trường nơi chứng khoán đang niêm yết hoặc sẽ niêm yết theo một phương thức cho phép các nhà đầu tư đánh giá các hoạt động và vị thế tài chính của tổ chức phát hành.
Điều 84.
1. Công ty đại chúng có trụ sở chính tại Cộng hoà Ba lan có nghĩa vụ phải đưa ra giao dịch nơi công chúng cổ phiếu của mỗi đợt phát hành.
2. Trong trường hợp một đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu của một công ty đại chúng được thực hiện thông qua việc chào bán cho ít hơn 300 người mua cá nhân, công ty này phải có được sự chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng các cổ phiếu phát hành để thực hiện quyền của các trái chủ có được từ các trái phiếu này trước khi đưa ra đề nghị chào bán các trái phiếu này.
Điều 88.
1. Uỷ ban thực hiện đăng ký các chứng khoán được chấp thuận giao dịch nơi công chúng.
2. Chủ tịch Uỷ ban quyết định bằng nghị định phương thức mà qua đó chứng khoán được chấp thuận giao dịch nơi công chúng được đăng ký.
Trần Trí Dũng, Sưu tầm
Theo Luật chứng khoán Ba Lan