"... Đừng tưởng Xuân tàn, hoa rụng hết
Đêm qua sân trước, một cành mai."
- Mãn Giác Thiền Sư
Chắc đó là cành mai trắng nở trong đầu xuân còn đầy hơi giá rét của miền Bắc khắc nghiệt với bốn mùa khí hậu. Khác với hoa mai vàng ở miền Nam, ở miền Bắc có cây mai cho loại hoa trắng và có phớt hồng. Cây mai thuộc nhóm bốn loại cây đặc trưng cho khí hậu miền Bắc, cũng hơi giống cách quan niệm của Trung Quốc. Bốn nhóm cây đó là Tùng - Trúc - Cúc - Mai. Trong đó, Mai đặc trưng cho mùa Xuân.
Thế nào là một cây mai đẹp thì chắc không dễ để kết luận, nhưng tôi xin trình bày một vài góc nhìn về cây mai đẹp theo quan sát được từ nhận định của những người thạo. Trước tiên về thế cây. Hai thế cây phổ biến, đặc trưng là thân trực và dáng huyền. Thân trực là thân vươn lên cao, mặc dù thường không mấy khi thẳng đứng, nhưng có uốn lượn thì vẫn vươn lên cao.
Đã là dáng trực thì chiều cao là đặc trưng, và số tán lá của các tay nhỏ theo tầng không quá dầy. Tán cũng không nên to quá, vì dáng cây sẽ bị phân tán. Dáng trực đẹp là dáng con rồng, hơi uốn, và phân bố của một số khóm trông khá cân đối tựa như một con rồng đang ngóc lên trời. Với dáng trực, bộ rễ không mấy khi quá lớn và gân guốc, nổi lên trên. Thậm chí, bộ rễ lớn quá có thể làm hỏng bớt dáng.
Dáng huyền là những cây mai có một hoặc hai "tay" lớn, vươn dài sang ngang, thậm chí hơi chúc cuống. Những cây dáng huyền thì chiều cao không mang nét đặc trưng, mà thường có tán bám theo tay. Tay sang ngang đẹp là tay đủ "dầy" (đường kính không bé quá), và có nhiều tán nhỏ bám theo, và cũng không ngắn quá. Tay ngắn quá có cảm giác mới được "chế" thêm tay.
Một loại dáng nữa cũng khá quan trọng là Phúc-Lộc-Thọ, tức là gốc sinh 3 thân lớn trước khi sinh các tay lớn và tán hoa-lá. Thường loại thân này cũng không cao quá, và kích thước từng gốc không lớn.
Một số loại dáng khác là trộn lẫn giữa hai loại dáng trên. Trong đó, người ta còn thích một loại dáng mà có một tay nhỏ, vươn lên, bám theo hướng thân chính của cây gọi là "Thân Con" (theo nghĩa Phụ-Tử). (Còn những kiểu nào khác nữa thì xin mọi người bổ sung để có thêm kiến thức).
Cách thứ hai để coi cây mai là đẹp là độ cổ kính, độ gân của bộ rễ, đường kính của gốc, độ gân của các mắt lớn trên các tay chính.
Một cách khác đánh giá cây mai là theo hoa, kích thước, màu, phân bố của hoa.
Hoa mai rất đẹp và thực ra rất giống hoa mận. Cây mai cảnh thường có thân khẳng khiu, các tay được chăm sóc kỹ, và nếu trồng đúng kỹ thuật, cây khỏe, tính thời điểm chính xác... thì sẽ bật hoa vào đúng dịp Tết, thậm chí với cây lớn hàng trăm bông một lúc.
Tuy vậy, để làm được điều này quả thật không dễ. Trồng hoa mai đòi hỏi chăm sóc kỹ lưỡng. Dưới đây là một số thông tin sơ bộ cùng đưa lên chia sẻ với các bạn. Nếu ai đó tiếp tục có những bài viết tốt, xin đóng góp để những ai yêu thích trồng và thưởng ngoạn mai trắng miền Bắc có thêm những thông tin quý báu.
Vào cuối các tháng 3, tháng 5 và tháng 7 (tính theo lịch Âm), người ta phải bấm dăm cây mai. Dăm là các đoạn cành có chồi hoa, mà sau khi tàn, thường để lại các dăm khô. Việc này vừa làm gọn cây, vừa quang quẻ cho cành lá khác phát triển.
Các tay mới của chồi lá cũng được bấm một nửa, vào các tháng trên.
Vào cuối tháng 10 Âm, và muộn nhất là mùng 5 tháng 11 Âm lịch, người ta sẽ tuốt lá cây mai.
Chế độ dinh dưỡng cho cây hoa mai cũng không có gì phức tạp, nhưng chỉ có tác dụng với những cây đã có bộ rễ bám đất kỹ (chứ không phải cho những cây mới được đánh vừng ra bán và trồng lại vào đất). Với những cây rễ đã bám tốt, và lộc mới đã ra đều, thường xuyên nên tưới nước vo gạo, nước ốc ngâm, ruột cá và ruột tốc tươi chôn lẫn xuống dưới một lớp đất.
Cây mai có thể sống tốt dưới ánh nắng, trừ ba tháng hè khắc nghiệt của miền Bắc là 5-6-7. Trong thời gian này, nên có chế độ che phủ cho cây và đặc biệt là bộ rễ. Bộ rễ cần được làm ẩm (xin thăm hỏi kỹ thuật này và bổ sung thông tin sau)
Cây mai thường sống dưới một tán cây khác và như vậy không cần tới rất nhiều nắng, mà là ánh nắng vừa đủ. Các bạn có thể thưởng thức một cành mai đẹp của thiên nhiên dưới đây.
Tạm thời thông tin mới có vậy, xin cập nhật dần sau. Ai có thêm thông tin về kỹ thuật trồng mai trắng miền Bắc xin post vào thảo luận, tôi sẽ cập nhật lên nội dung để có bài hoàn chỉnh, hữu ích cho người trồng mai.
Cảm ơn và hẹn gặp lại một mùa Xuân mới, Kỷ Sửu 2009. Dưới đây là một bài viết cũ sưu tầm lại từ Thư viện Hoa Sen.
MÙA XUÂN NÓI CHUYỆN HOA MAI (Tuyết Mai)
Hoa mai là loại hoa nở đầu tiên trong mùa Xuân. Nói đến mùa Xuân người ta liền nghĩ đến hoa mai, nói đến hoa mai người ta liền nghĩ đến mùa Xuân. Hoa mai là một trong những loài hoa được ưa chuộng nhất từ trước đến nay.
Có nhiều loại hoa mai, hầu hết các loại mai đều có năm cánh, hay tám cánh, có loại có nhiều tầng nên có rất nhiều cánh. Nhưng hai loại phổ thông được nhiều người biết đến là hoa mai vàng (huỳnh hoa) và mai trắng (bạch mai). Mai vàng là hoa mai người ta thường nói tới, nở rộ vào mùa Xuân từ miền Trung vào Miền Nam. Màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng, cao sang, màu của vua chúa. Vào khoảng Tết ta, ra khỏi ngoại ô Saigon, đi về hướng Lái Thiêu, Bình Dương, dọc đường nhà nào cũng có một cội mai già, hoa đua nở đầy cành, vàng rực, đẹp không thể diễn tả. Loại hoa mai thứ hai là "bạch mai" có màu trắng, cũng có năm cánh hay tám cánh như huỳnh mai, nhưng mai trắng rất hiếm quý và có hương thơm dìu dịu, thanh khiết. Có người gọi mai trắng là "Tuyết Mai", vì tuyết có màu trắng.
Hoa mai không có hương sắc quyến rũ như hoa hồng, cũng không sực nức hương thơm như dạ lý, nhưng hoa mai mỏng mảnh, đính trên cành, trên thân cây gầy guộc, cằn cỗi tạo một nét đẹp tương phản, thật duyên dáng, độc đáo.
Tại Việt Nam có một loại hoa mai gọi là "mai tứ quý". Hoa cũng có năm cánh vàng như huỳnh mai, khi hoa tàn thì năm cánh rụng, năm đài hoa đổi thành màu đỏ, úp lại, ôm lấy nhụy là hạt màu xanh. Hạt lớn dần đẩy năm đài hoa bung ra giống như hoa mai đỏ. Vì vậy mai tứ quý được gọi là "Nhị Độ Mai" tức là hoa mai nở hai lần, lần đầu cánh hoa có màu vàng, lần sau cánh hoa có màu đỏ. Loại hoa này nở quanh năm.
Ngoài hương sắc và duyên dáng, hoa mai được các nhà Nho và các Thiền sư coi là một biểu tượng của hai đức tính "Nhẫn" và "Dũng". Chịu đựng thời tiết khắc nghiệt lạnh lẽo mùa Đông, hoa vẫn kết nụ để là đóa hoa đầu tiên chào đón Xuân. Cảm cái đức hạnh thủy chung, cái khí tiết nhẫn nhục và kiêu dũng đó, mùa Xuân phong cho hoa mai là vua của tất cả các loài hoa khác, có tên là "Đông Quân". Nhiều nữ sĩ có tên "Mai" lấy bút hiệu là "Đông Quân" cũng từ điển tích này.
Từ nét duyên dáng, thuần khiết bên ngoài cho đến tính khí đức hạnh, kiêu dũng bên trong, hoa mai được người Trung Hoa tôn vinh là "quốc hoa". Các nhà Nho và các Thiền sư Trung Hoa cũng như Việt Nam luôn coi hoa mai là một tấm gương, một biểu tượng của vẻ đẹp vẹn toàn, "bách hoa khôi". Họ đem ghép hoa mai với "tùng" và "trúc" thành một bộ ba "Tam Hữu". Cây tùng tượng trưng cho trượng phu, cứng cõi, ngay thẳng; cây trúc tượng trưng cho sự kiên nhẫn, rộng lượng và hoa mai được gọi là "ngự sử mai" tượng trưng cho sự hiểu biết và nét đẹp vẹn toàn. Người xưa rất quý "tam hữu".
Trong Hội Thơ Tao Đàn, vua Lê Thánh Tông có bài thơ "Mai Thụ" (Cội mai) như sau:
"Trội cành nam chiếm một chồi
Tin Xuân mãi mãi điểm cây mai
Tinh thân sáng, thuở trăng tĩnh
Cốt cách Đông khi gió thôi (ngừng)
Tiết cứng trượng phu, thông (tùng) ấy bạn
Nết trong quân tử, trúc là đôi (sánh đôi)
Nhà truyền (thống) thanh bạch dăng từng khối
Phỉ xứng danh thơm đệ nhất thời!"
Ngoài ra hoa mai cũng được ghép với lan (tùng? - VQH), cúc, trúc, thành bộ "tứ quý", tức là bốn loại hoa, kiểng quý, tượng trưng của bốn mùa Xuân, Hạ, Đông. (ảnh dưới là Nhất chi mai, một loại mai trổ hoa tuyệt đẹp.) (*VQH: Từ đây tôi có thể suy ra một cách logic rằng cổ nhân nói tới loại mai trắng của núi rừng và giá lạnh miền Bắc, chứ không phải loại mai vàng của miền Nam, mặc dù có cùng tên "mai". Về mặt sinh học, tôi cũng không dám chắc tuy cùng gọi là "mai", nhưng chúng có cùng thuộc họ hàng hay không. Vì cây mai trắng miền Bắc cho quả giống như quả mận...)
Cụ Chu Thần, Cao Bá Quát là một nho sĩ kiệt liệt, một tài năng văn chương lỗi lạc, một đại anh hùng thế thiên hành đạo, suốt quãng đời bôn ba khắp chốn cầu cổ kiếm để xây dựng sự nghiệp bá vương, cụ không gặp bậc chính nhân quân tử nào có cốt cách như "mai ngự sử", vì vậy cụ đã làm hai câu thơ:
"Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai"
Có nghĩa là:
"Mười năm xuôi ngược giao du cốt tìm thanh kiếm cổ
Một đời chỉ cúi đầu vái lạy trước hoa mai".
Cụ Chu Thần, Cao bá Quát đã hết lời xưng tụng "bách hoa khôi". Cụ cũng có bốn câu thơ "Trồng mai" được dịch ra như sau:
"Đầu non nắm hạt mai gieo
Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi
Nữa mai xuân điểm bầu trời
Bức tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung".
Được bái lạy như vậy, hoa mai quả là một loài hoa rất quý?
Hoa mai đã gợi nhiều cảm hứng cho thi nhân, nên ảnh hưởng rất lớn trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Lý Bạch làm thơ:
"Ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nghe tiếng sáo thổi
Giữa tháng năm, chợt vang khúc "hoa mai rơi" ở chốn Giang thành"
Nguyễn Trãi, vị khai quốc công thần nhà Hậu Lê yêu hoa mai vì:
"Yêu mai, yêu tuyết bởi vì đâu?
Vì tuyết trắng, mai thơ và tinh khiết"
Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du có rất nhiều câu thơ nói về hoa mai.
"Thướt tha vóc liễu Xuân đầy
Cành mai xa bẻ ngất ngây ý sầu
Biết chàng lòng có thương sâu
Chúa Xuân ngán nỗi chờ lâu mỏi mòn"
Nhiều Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam đã dùng hoa mai làm ẩn dụ cho sự hạnh phúc, niềm vui giác ngộ trong những bài kệ để truyền dạy Phật pháp cho Phật tử, cho hậu thế. Bài kệ về "Mùa Xuân Hoa Mai" của Thiền Sư Mãn Giác được phổ biến rộng rãi trong giới Phật tử:
"Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai"
Bài thơ có nghĩa là, cuộc đời là một dòng sinh diệt, vô thường, biến chuyển theo thời gian và không gian. Xuân đến rồi Xuân đi, hoa cười rồi hoa rụng… là lẽ đương nhiên của vũ trụ, hễ có sinh thì có diệt. Nhưng trong sự sinh diệt của vũ trụ vẫn còn có một cái không sinh diệt đó là Phật tánh, là chân tâm, chân như. Nếu chúng ta luôn tu tập, Phật tánh đó giúp ta có được cuộc sống an lành, hạnh phúc. Tâm an bình gọi là Tâm Xuân, trong tâm Xuân, cành mai (biểu tượng của hạnh phúc) sẽ còn mãi mãi, không tàn, không rụng. Cần gì phải chờ đến mùa Xuân mới có hoa mai? Hoa nở rồi hoa cũng tàn. Chỉ có cành mai trong tâm Xuân là tồn tại mãi mãi, ngoài dòng sinh diệt, vô thường, bể dâu của vũ trụ.
Các thi sĩ lưu lạc cũng luôn mang theo trong tâm tưởng những hoài niệm dấu yêu về một mùa Xuân êm đềm nơi quê cũ.
Nhà thơ Nguyễn Vô Cùng thương xót cội mai già:
"Xót cội mai khô, bình rạn vỡ
Thương cành Xuân héo, dạ đầy vơi
Khói hương tàn lạnh từ Xuân ấy
Mà quyện tim ai mãi cuối đời"
Trong khu vườn hoài niệm đó có đổ vỡ, chia ly, bom đạn… Nhà thơ Nguyễn Vô Cùng viết:
"Mùa Xuân này em có về quê mẹ
Thăm dùm anh vườn cũ có còn xanh
Tới gốc mai(*) từng trúng đạn bao lần
Xem có nở nụ hoa nào kịp Tết"
(*) VQH: Mai trong bài thơ này thì tôi tin là mai vàng của miền Nam.
...Xuân đến rồi xuân cũng đi, mai nở rồi mai cũng tàn, thôi thì chúng ta hãy vun xới mảnh vườn tâm trong ta, biến vườn tâm thành vuờn Xuân tuyệt đẹp của thế gian. Trong Tâm Xuân luôn có những cành mai.