|
Người gửi:
--
21/05/2012 11:33 AM
Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - Khái niệm, bối cảnh và chính sách
(
Bình chọn:
--
:
--
Số lần đọc:
876)
Thân tặng các bạn Saga Báo cáo nghiên cứu mới đây của bọn mình về một chủ đề khá mới ở Việt Nam: Doanh nghiệp xã hội (file pdf. kèm theo).
Đây là một mô hình tổ chức 'lai', 'hỗn hợp', 'in-the-middle' sử dụng kinh doanh để thực hiện mục tiêu xã hội, không vì lợi nhuận.
Thiết nghĩ mô hình Doanh nghiệp xã hội (DNXH- Social Enterprise) rất có ích cho đất nước ta (đặc biệt trong bối cảnh khó khăn kinh tế hiện nay), và chắc là sẽ sớm trở thành một xu hướng của tương lai; tương tự như đang phát triển ở nước khác trên thế giới, nên việc đẩy mạnh truyền thông, tăng cường nhận thức về DNXH là rất cần thiết. Mong các bạn ủng hộ, thảo luận và phổ biến khái niệm về mô hình này để DNXH ngày càng trở thành một trong những lựa chọn khởi nghiệp ở Việt Nam.
--------------------------------------------- Tóm tắt:
Doanh nghiệp xã hội được hình thành từ các sáng kiến
xã hội, trên nền tảng nhu cầu giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể của cộng đồng,
được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân của những người sáng lập. Tính tự phát, năng
động đặc thù này khiến cho nhận thức của xã hội luôn bị bỏ lại rất xa so với thực
tiễn sinh động của mô hình DNXH. Hiện nay, ở nước ta có gần 200 tổ chức được
xem có đầy đủ các đặc điểm của DNXH, các tổ chức đi tiên phong được thành lập từ
thập niên 1990, tuy nhiên khái niệm về DNXH vẫn còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Doanh nghiệp xã hội là gì? DNXH đầu tiên xuất hiện ở nước Anh từ thế kỷ 17.
Trong các thế kỷ tiếp theo, lần lượt các mô hình tín dụng vi mô, hợp tác xã, nhà
ở xã hội, hội ái hữu... đã ra đời và được nhân rộng ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ.
Tuy nhiên, DNXH chỉ phát triển mạnh mẽ và trở thành một phong trào rộng lớn trên
thế giới như hiện nay kể từ đầu những năm 1980, khi mô hình Nhà nước phúc lợi dần
nhường chỗ cho quan điểm đổi mới vai trò của nhà nước theo hướng tinh giản, nhỏ
gọn, chia sẻ và chuyển một phần chức năng cung cấp phúc lợi xã hội cho khu vực
thứ ba là các tổ chức đứng giữa khu vực công và các doanh nghiệp tư nhân. Số liệu
năm 2005 cho thấy nước Anh có tới 55.000 DNXH, với doanh thu 27 tỷ Bảng, sử dụng
475.000 lao động và đóng góp 8,4 tỷ Bảng/năm cho GDP. Trên phạm vi toàn cầu,
phong trào DNXH cũng nở rộ, điển hình nhất là mô hình Grameen Bank của Bangladesh
và người sáng lập được trao giải thưởng Nobel năm 2006. Nhiều quốc gia đã chính
thức công nhận DNXH và tạo lập khung khổ pháp lý, ban hành các chính sách khuyến
khích, hỗ trợ sự phát triển DNXH ở nước mình để khu vực này trợ giúp lại Nhà nước
thực hiện có hiệu quả hơn các mục tiêu xã hội. Mặc dù vậy, thực tiễn phong phú của các DNXH cũng làm
cho các quan điểm về khái niệm DNXH rất đa dạng, nhiều chiều. Nhìn chung, DNXH
là một mô hình tổ chức có 3 đặc điểm then chốt sau đây: -
Đặt mục tiêu, sứ mệnh xã hội lên hàng đầu, ngay
từ khi thành lập; -
Sử dụng các hoạt động kinh doanh, cạnh tranh bình
đẳng như một phương tiện để đạt mục tiêu xã hội đó; -
Tái phân bổ phần lớn lợi nhuận từ hoạt động kinh
doanh trở lại cho tổ chức, cộng đồng, và mục tiêu xã hội. Ngoài ra, hầu hết DNXH còn có một số đặc điểm nổi bật
khác, như: (i) có cấu trúc sở hữu mang tính xã hội; (ii) nguồn thu được lấy từ
hoạt động kinh doanh và tài trợ; (iii) hiệu quả hoạt động cần được đánh giá trên
cả hai mặt kinh tế và xã hội; (iv) phục vụ nhu cầu của nhóm đáy, là những người
nghèo, yếu thế, bị lề hóa trong xã hội; (v) sáng kiến, cách tiếp cận ‘từ dưới
lên’; (vi) cởi mở và liên kết; (vii) gắn chặt với vai trò của DNhXH; (viii)
nhân viên của DNXH là những người làm công tác xã hội (vẫn có lương, không phải
là tình nguyện viên). DNXH thường được nhận diện như một mô hình ‘lai’
(hybrid) giữa hai loại hình tổ chức phi chính phủ/ phi lợi nhuận và doanh nghiệp.
Trên thực tế, mô hình DNXH có thể áp dụng với nhiều loại hình tổ chức và có địa
vị pháp lý khác nhau, như NGO, công ty TNHH, CP, HTX, Quỹ, hội, câu lạc bộ... Cũng
cần phân biệt rõ, DNXH hoàn toàn khác với khái niệm Trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp (CSR) hay Thương mại công bằng (FT), mặc dù các mô hình này có thể
kết nối, lồng ghép. Đáng chú ý, việc DNXH dựa trên những sáng kiến xã hội mà ở đó
hoạt động kinh doanh được sử dụng để đem lại một giải pháp xã hội bền vững, tạo
ra cho DNXH những ưu thế như tính tự chủ về tổ chức, bền vững về tài chính, hiệu
quả và quy mô về tác động xã hội. Trong giai đoạn trước Đổi mới, Việt Nam cũng đã có một
số mô hình có thể được coi là các DNXH, đó là các HTX tạo việc làm cho người
khuyết tật. Sau 1986, đường lối Đổi mới và chính sách mở cửa của Nhà nước đã thực
sử tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần
kinh tế, các tổ chức từ thiện, phát triển cộng đồng trong và ngoài nước. Từ giữa
những năm 1990, một số DNXH thực thụ đã bắt đầu xuất hiện như Trường Hoa Sữa,
Nhà hàng KOTO tại Hà Nội, Mai Handicrafts tại TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, nhận
thức xã hội vẫn in đậm sự tách bạch giữa hai loại hình doanh nghiệp vì lợi nhuận
và các tổ chức NGO không vì lợi nhuận, do đó các DNXH chỉ mới phát triển ở mức
độ đơn lẻ, quy mô hạn chế. Từ năm 2010, Việt Nam trở thành nước có thu nhập
trung bình thấp, dòng vốn tài trợ có xu hướng giảm, không ít tổ chức NGO đã
chuyển đổi thành DNXH để tìm hướng đi mới cho mình. Cùng thời điểm này, các khái niệm về DNXH đã được một
số tổ chức, như Hội đồng Anh và Trung tâm CSIP, giới thiệu và tuyên truyền rộng
rãi ở Việt Nam. Hàng chục DNXH mới đã được CSIP ‘ươm tạo’ thông qua quy
trình tuyển chọn, công nhận và hỗ trợ của trung tâm. Hiện nay, DNXH của Việt
Nam có thể được phân loại thành 3 nhóm như sau: (i) các DNXH phi lợi nhuận thường
là các NGO đổi mới hoạt động bằng việc thành lập các nhánh kinh doanh để tăng
cường khả năng tự vững; (ii) các DNXH không vì lợi nhuận là các DNXH mới hoạt động
chủ yếu dưới các hình thức công ty; (iii) DNXH định hướng xã hội, có lợi nhuận
thường là các HTX, Quỹ tín dụng... Theo ước tính số lượng các tổ chức có tiềm năng
để trở thành DNXH ở Việt Nam hiện lên tới 25.600 tổ chức các loại. Đó là chưa kể
đến các Cơ sở ngoài công lập phi lợi nhuận, các DNNN cung cấp dịch vụ công ích,
Đơn vị sự nghiệp công lập và Tổ chức KH&CN công lập được Nhà nước khuyến khích
chuyển đổi hoạt động sang mô hình doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả, đều có thể
áp dụng mô hình DNXH. Làm thế nào để phát triển DNXH tại Việt Nam? Tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này cho
thấy Chính phủ Anh đưa ra khái niệm về DNXH và Chiến lược phát triển DNXH từ năm
2002. Năm 2005, một loại hình pháp lý mới của doanh nghiệp là Công ty vì lợi ích
cộng đồng (CIC) dành riêng cho DNXH được quy định, đây là một loại hình doanh
nghiệp duy nhất đuợc bổ sung trong 100 năm qua. Các DNXH có thể lựa chọn đăng ký
dưới hình thức CIC nhưng không bắt buộc. Hiện có khoảng 2.500 công ty CIC, đa số
các DNXH còn lại ở Anh vẫn hoạt động dưới hình thức NGO. Đáng chú ý, Chính phủ
Anh đặt DNXH trong một chiến lược tổng thể thúc đẩy sự phát triển và tham gia của
khu vực Thứ ba, bao gồm cả các tổ chức NGO, thiện nguyện, cộng đồng và nhóm tình
nguyện. Về thể chế, Chính phủ Anh thành lập bộ phận chuyên trách về DNXH (SEnU)
thuộc Văn phòng khu vực Thứ ba, đặt dưới Văn phòng Nội các. Ở Mỹ, Chính phủ liên
bang lại thành lập Văn phòng Sáng kiến xã hội và sự tham gia của công dân hoạt
động như một tổ chức NPO, và cũng tạo lập một loại hình doanh nghiệp mới- Công
ty lợi nhuận thấp (L3C) cho các DNXH. Ở châu Á, Chính phủ Hàn Quốc ban hành Luật Phát triển
DNXH từ năm 2007 và thiết lập Ủy ban hỗ trợ DNXH trực thuộc Bộ Lao động để điều
phối các chương trình khuyến khích, hỗ trợ DNXH. Mối quan tâm lớn nhất của Hàn
Quốc đối với DNXH là hiệu quả tạo việc làm đặc biệt trong các thời kỳ khủng hoảng
kinh tế. Chính phủ Thái Lan cũng thành lập Ủy ban khuyến khích DNXH thuộc Văn
phòng Thủ tướng từ năm 2009, Văn phòng Thái về DNXH trực tiếp nghiên cứu, lập
chính sách phát triển DNXH từ năm 2010. Một bản Chiến lược phát triển, Nghị định
về DNXH đã được ban hành năm 2010-2011, và hiện tại một văn bản Luật đang được
dự thảo. Chính phủ Singapore thành lập Phòng DNXH đặt trong Bộ Phát triển cộng
đồng, Thanh niên và Thể thao từ năm 2006, đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò của
DNXH trong việc giúp Chính phủ tạo việc làm cho nhóm cộng đồng yếu thế. Trong khi đó, các DNXH của Việt Nam gặp rất nhiều khó
khăn từ vấn đề nhận thức về DNXH còn hạn chế, chưa được công nhận chính thức từ
phía nhà nước, thiếu một địa vị pháp lý rõ ràng, hạn chế về nguồn nhân lực, khả
năng tiếp cận vốn, kỹ năng quản lý điều hành kinh doanh và gắn kết cộng đồng, cũng
như một hệ thống các tổ chức trung gian, dịch vụ hỗ trợ có tính kết nối... Việt Nam tuy bước qua một ngưỡng phát triển mới, nhưng
vẫn nằm trong nhóm nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp. Đất nước
vẫn còn nghèo, trong khi đó quá trình tăng trưởng kinh tế lại đặt ra rất nhiều
vấn đề xã hội- môi trường mới nảy sinh. Ước tính có đến 24 triệu người (28% dân
số) thuộc diện đối tượng cần hỗ trợ, bao gồm: hộ nghèo và cận nghèo, người khuyết
tật, trẻ em có hòan cảnh đặc biệt, người mãn hạn tù, người bị nhiễm HIV/AIDS,
người già neo đơn. Bên cạnh đó là hàng loạt các vấn đề khác như bạo lực xã hội,
lối sống không lành mạnh, stress của dân đô thị, giáo dục và y tế đều ở tình trạng
quá tải, bất hợp lý, thực phẩm an toàn, xử lý rác thải, ô nhiễm không khí, tiết
kiệm năng lượng, bảo tồn văn hóa...
Rõ ràng, đã đến lúc để Chính phủ cần coi các
DNXH như những đối tác chia sẻ gánh nặng, giúp Chính phủ thực hiện các mục tiêu
xã hội. Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo lập khung khổ pháp lý, chính thức
công nhận, và đề ra các chính sách cụ thể khuyến khích, hỗ trợ các DNXH, cũng
như thể chế thực hiện các chính sách đó là vô cùng cần thiết.
|