Tìm kiếm  
 
Giới thiệu sách, tài liệu Đào tạo Hội nghị-Hội thảo Học bổng - Nghiên cứu Phương pháp luận khoa học Gương mặt học giả
Bạn đang ở :  Trang chủ » Cuộc sống » Giảng đường » Gương mặt học giả

KIẾN THỨC KINH DOANH

THẾ GIỚI KINH DOANH

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Acsimet - nhà bác học vĩ đại của Hy Lạp cổ
Tự truyện vô cùng cảm động của một tiến sĩ Harvard người Trung Hoa
Cách học ngoại ngữ của Heinrich Schliemann
Adam Smith (1723 - 1790)
David Ricardo (1772 - 1823)
Nữ tiến sĩ trẻ nhất Việt Nam
Eran Katz - Bí mật của một trí nhớ siêu phàm
Albert Einstein-Thiên tài của mọi thiên tài
PETER F. DRUCKER - Người khởi xướng nghệ thuật quản trị
Các nhà kinh tế học đã thay đổi lịch sử của chúng ta như thế nào
Nhà sư phạm Văn Như Cương
Paul Samuelson (1915 - ...)
31 tuổi trở thành GS.TS toán học hàng đầu thế giới
John Maynard Keynes (1883 - 1946)
Karl Heinrich Marx (5/5/1818 - 14/3/1883)
Gương mặt Nobel Kinh tế: 1969-2007
Albert Einstein - Nghịch lý của một thiên tài
Isaac Newton (25/12/1642-20/3/1727)
Ông vua toán học
Schumpeter (1883-1950): Người tôn vinh doanh nhân
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Tự truyện vô cùng cảm động của một tiến sĩ Harvard người Trung Hoa  
  Khắc tên 16 nghìn tiến sỹ - xin can, xin can!  
  Eran Katz - Bí mật của một trí nhớ siêu phàm  
  Nữ tiến sĩ trẻ nhất Việt Nam  
  Gương mặt Nobel Kinh tế: 1969-2007  
  Cô gái Việt bắt bệnh cho kinh tế thế giới  
  Cách học ngoại ngữ của Heinrich Schliemann  
  Albert Einstein - Nghịch lý của một thiên tài  
  Albert Einstein-Thiên tài của mọi thiên tài  
  Karl Heinrich Marx (5/5/1818 - 14/3/1883)  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: truelie311  --   08/01/2007 07:52 AM    

Paul Samuelson (1915 - ...)

( Bình chọn: 3   --  Thảo luận: 1 --  Số lần đọc: 9935)

samuelson.gifSamuelson, Paul (1915 - ...)
Birthplace: Gary, Indiana, USA Deathplace: ...

Ông tốt nghiệp ĐH Chicago năm 1935, thạc sĩ năm 1936, và Tiến sĩ năm 1941 tại Harvard. Trước đó Samuelson là nghiên cứu viên của Social Science Research Council giai đoạn 1935-1937; thành viên Society of Fellows, Harvard 1937-1940. Ông nghiên cứu tại Ford Foundation Research Fellow 1958-1959. Ông là tiến sĩ danh dự Luật Chicago và Oberlin College 1961, Indiana University và East Anglia University (Anh) 1966. Ông được trao giải thưởng David A. Wells Prize 1941 của Harvard và Huy chương John Bates Clark của Hội Khoa học kinh tế Hoa kỳ 1947 dành cho nhà kinh tế học xuất sắc còn sống và dưới tuổi 40 "vì đã đóng góp đặc biệt lớn tới hệ thống tư tưởng và kiến thức kinh tế." Về thực chất, ông là nhà toán học nghiên cứu các ứng dụng trong kinh tế, thông qua mô hình toán.

Cuốn sách nổi tiếng của ông "Economics: An Introductory Analysis", xuất bản lần đầu tiên vào năm 1948, đã nhanh chóng trở thành sách giáo khoa kinh tế kinh điển, với hơn 1 triệu bản đã tiêu thụ khắp thế giới, có ảnh hưởng lớn nhất đương đại, được dịch sang nhiều thứ tiếng Pháp, Đức, Ý, Hung-ga-ry, Bồ đào nha, Triều tiên, Ả-rập... Ông là GS tập sự ở M.I.T. năm 1940, PGS 1944. Ông trở thành Giáo sư Kinh tế tại Fletcher School of Law and Diplomacy 1945. Ông được phong Giáo sư của M.I.T. 1947, và trở thành một trong chuyên gia hàng đầu thế giới nghiên cứu về lạm phát. Chủ tịch Hội khoa học kinh tế Hoa kỳ 1961; Chủ tịch Hội khoa học kinh tế lượng 1951; Viện sĩ VHL Khoa học và Nghệ thuật Hoa kỳ; Cố vấn kinh tế Tổng thống Kennedy 1961; và rất nhiều chức danh khoa học được kính trọng.

Với những đóng góp vĩ đại của ông cho kho tàng kiến thức kinh tế toán nhân loại, ông được trao giải thưởng Nobel Khoa học kinh tế năm 1970. Ông hiện sống ở Belmont, Massachussetts, Hoa Kỳ; có 6 người con, trong đó có 3 con trai sinh 3.

saga.vn

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 15/ 3 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 1)
  dangquangn (26/07/2009 08:47 AM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Giáo sư Paul A. Samuelson phát biểu tại đại lễ Nobel ở Stockolm 10/12/1970 -  Tâu hoàng đế, tâu hoàng thân, thưa các quý bà quý ông,

Theo tôi ước mơ của bất cứ học giả nào sẽ trở thành hiện thực với giải thưởng này. Giải Nobel chỉ biết đến trong các môn khoa học cứng nhắc như văn học, Nobel vì hòa bình. Tưởng tượng rồi đây môn kinh tế học của tôi- một ngành nghệ thuật lâu đời nhất nhưng cũng là một môn khoa học mới nhất được vinh danh do ngân hàng Thụy Điển tài trợ cho giải thưởng tưởng nhớ Alfred Nobel. Nếu có thể tôi xin phép được thay mặt cho các bạn đồng nghiệp trong giới tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quỹ giải thưởng Nobel đã giúp cho bộ môn kinh tế của chúng tôi được góp mặt trong đại lễ này.

Giải thưởng kinh tế năm ngoái đã đặt ra một tiền lệ khó khăn, có thể nói là không thể để có thể được duy trì. Theo quy luật giảm dần về sau, đó cũng là điều bình thường. Theo biệt ngữ kịch vui Mỹ, giáo sư Frisch and Tinbergen là “vai diễn khó theo”. Nhưng trái lại cuộc đời tôi đã tiếp theo những vị học giả vĩ đại và các vị cố vấn chính sách vĩ đại ấy.

Giờ tôi nên chuyển qua màn cảm ơn chào hỏi. Chúng ta đều đã nghe giáo sư Tiselius nói rằng ông ấy không biết đưa ra lời khuyên làm thế nào để đạt giải Nobel. Tôi sẽ chỉ cho các bạn biết. Điều đó rất dễ.

Điều đầu tiên các bạn phải làm là có thầy giáo giỏi. Vì các nhà kinh tế học có mặt tại đây, cho phép tôi được nhắc đến một số nhân vật nổi tiêu biểu đã giúp đỡ tôi trong lĩnh vực này. Nếu các bạn có các thầy giáo Jacob Viner và Frank Knight và Paul Douglas, rồi sau đó may mắn được học với Joseph Schumpeter, Wassily Leontief, Gottfried Haberler, và Alvin Hansen – thì bạn đã đáp ứng được điều kiện cần thiết đầu tiên cho bài toán này. Thứ hai bạn cũng phải may mắn có được những người đồng sự, cộng tác viên và nghiên cứu sinh xuất sắc. Nếu bạn có cơ hội được làm việc với những người như Lloyd Metzler, Robert Solow, và James Tobin, thì bạn đã thỏa mãn được điều kiện thiết yếu thứ hai- nhưng vẫn chưa phải là những điều kiện đủ.

Thứ ba, bạn phải có sinh viên giỏi. Tôi có thể sẽ dài dòng khi đề cập đến những cái tên của học viện công nghệ Massachusetts, nhưng tôi xin chỉ nêu tên mở đầu, tên đệm và tên cuối cùng theo bảng chữ cái với các tên tuổi Lawrence Klein, Robert Mundell, và Joseph Stiglitz. Tuy nhiên như thế chúng ta mới chỉ đi được ba phần năm chặng đường.

Điều kiện thứ 4 và cũng là một điều kiện quan trọng của học thuật là bạn phải đọc tác phẩm của các nhà chuyên môn xuất sắc, trong hội trường này tôi xin được thứ lỗi khi nêu tên các vị Bertil Ohlin, Gunnar Myrdal, Erik Lundberg và Ingvar Svennilson - và, tất nhiên, Gustav Cassel, Erik Lindahl và Knut Wicksell.

Bốn phần năm điều kiện cần thiết để thành công trong con đường học vấn đã được liệt kê. Để tôi không làm gián đoạn màn khiêu vũ của các bạn, cho phép tôi nhanh chóng chỉ ra điều kiện cần thiết cuối cùng bổ sung những điều kiện đủ cho một giải pháp trọn vẹn. Yếu tố cuối cùng, tất nhiên đó là may mắn.

Cuối cùng tôi xin công nhận rằng tôi cảm thấy khi vinh danh tôi hội đồng viện khoa học hoàng gia thực tế đang khen ngợi tất cả các nhà khoa học cùng thế hệ với tôi đã nỗ lực rất nhiều trong cùng lĩnh vực này.


Bài phát biểu của Paul A. Samuelson dành cho các sinh viên tại buổi đại lễ Nobel ở Stockolm 10/12/1970.

Tâu hoàng đế, hoàng thân, thưa toàn thể quý vị,

Tôi có mặt tại đây tối nay đáp lại những lời khen ngợi của các bạn là một sự chuẩn bị mang tính thủ tục dân chủ: vì tôi dị ứng với các ủy ban hoặc tôi là một vị giáo sư quá đãng trí, những người đạt giải khác đã họp và chọn ra một người diễn giải mà không có tôi. Vì thế họ chỉ định tôi làm việc này. Tuy vậy, tôi hi vọng các bạn sẽ không cảm thấy ớn lạnh với việc một nhà kinh tế trình bày tiếng nói của các bạn tuy rằng chao ôi trong đó có thể bộc lộ những lợi thế so sánh của anh ta. Tôi thốt lên chao ôi vì chỉ có một quy luật trong nghệ thuật đàm phán là quy luật của Gresham nhờ đó bài nói chuyện dở trở thành câu chuyện hay.

Thay mặt các bạn đồng nghiệp, chúng tôi cảm ơn các bạn những sinh viên đã tham gia trong buổi lễ này. Tôi đảm bảo với các bạn rằng chúng tôi đang ban cho các bạn món quà tuyệt vời nhất- rất nhiều bài toán khó cho tới nay vẫn chưa được giải quyết.

Cuối cùng tôi xin được thứ lỗi khi cắt ngang buổi lễ long trọng này. Tôi nói với các bạn bằng tất cả lòng mình. Nếu Alexander Solzhenitsyn đã có mặt ở đây để nói từ trái tim, tất cả nhiệt huyết của ông ấy, sẽ tốt hơn nhiều cho tất cả chúng ta, toàn thể nhân loại và tôi dám chắc mỗi nơi trên trái đất đều không phải là ngoại lệ. linh hồn của ông ấy vẫn bay lượn trong buổi lễ tuyên dương tối nay. Xin cảm ơn các bạn.

Một điểm đáng chú ý là việc nghiên cứu kinh tế học của tôi là do một sự tình cờ. Trước khi tốt nghiệp phổ thông, tôi như được hồi sinh vào lúc 8.00 qm, 2.1.1932 khi lần đầu tiên tôi bước chân vào giảng đường trường đại học Chicago. Bài giảng ngày đó nói về học thuyết của Malthus rằng dân số loài người sẽ sinh sôi này nở như thỏ cho tới khi mật độ trên một mẫu đất làm giảm tiền lương của họ tới mức tối thiểu chỉ sống vừa đủ, tại đó tỉ lệ sinh bằng tỉ lệ tử. Hiểu tất cả phương trình phân biệt đó quá dễ đến nỗi tôi lầm rằng mình đang bỏ lỡ cơ hội kiếm lợi từ một số điều thần bí.

May mắn ư? Đúng. Và cả cuộc đời tôi đã ngồi đúng nơi, đúng lúc. Chicago ngày đó là trung tâm hàng đầu về nghiên cứu kinh tế vĩ mô tân cổ điển. Nhưng tôi không biết rằng lý do tôi tới đó đơn giản là vì trường đại học Chicago gần trường cấp ba và gần nhà tôi. Sau đó tôi được mời rời khỏi trung tâm Chicago, được quyền lựa chọn tiếp tục nghiên cứu sinh ở Havard hay Colombia. Những người thấy hướng dẫn đầy tôn kính của tôi ở trường Chicago Frank Knight, Jacob Viner, Henry Simons, Paul Douglas, không do dự đều nói rằng “chọn Columbia” nhưng không ai mù quáng nghe theo lời khuyên của người lớn, tôi đã chọn Havard vì dự tính nhầm lẫn của mình với ước mong đó là một ốc đảo nhỏ bé có các ngọn đồi xanh mát.

Một phần cảm ơn tới những tai họa Adolph Hitler, nơi tạm trú của tôi những năm 1935-40 ở Havard trùng khớp với thời kì phục hưng kinh tế được tiến hành bởi Joseph Schumpeter, Wassily Leontief, Gottfried Haberler, và “Keynes Mỹ" Alvin Hansen.(vả lại về phía tôi, tôi có thể trở thành học trò ruột duy nhất của học giả Edwin Bidwell Wilson, chính ông đã từng là học trò ruột duy nhất của nhà vật lý xuất sắc nhất đại học Yale Willard Gibbs. Nghiên cứu sinh Havard thuộc khoa mới mở của Havard đương thời đều ngang tài ngang sức với nhau. Richard Musgrave, Wolfgang Stolper, Abram Bergson, Joe Bain, Lloyd Metzler, Richard Goodwin, Robert Triffin, James Tobin, Robert Solow,...tất cả họ đều những người bạn của tôi, là những ngôi sao của thời đại những năm 1950-2000 trong lĩnh vực kinh tế. Havard đã sinh ra chúng tôi, vâng đúng vậy. Nhưng như tôi đã nói rất nhiều lần, chúng tôi làm nên Havard.

Công tước vùng Wellington từng nói: cuộc chiến Waterloo đã chiến thắng trên đấu trường của Eton”. Tôi có thể nói rằng “chiến tranh thế giới thứ hai đã chiến thắng trong các phòng họp hội nghị của Cambridge, Princeton, và Los Alamos."

Có lẽ nhân tố có vai trò quan trọng hơn yếu tố may mắn là một điều thiết thực rằng kinh tế học dường như là dành cho tôi. Lĩnh vực này sau đó đã đưa một ứng dụng toán học vào cả lý luận và khoa học thống kê. Là một đứa trẻ có tài năng sớm phát triển, tôi từng vượt qua rất xuất sắc các kì khi sát hạch chỉ số IQ về giải quyết vấn đề và logic. Vì vậy nếu kinh tế học đã được sinh ra dành cho tôi, có thể nói rằng tôi sinh ra là để dành cho kinh tế học

Năm 1932 là điểm bắt đầu của cơn đại suy thoái. Vào lúc ấy đó là thời điểm không thuận lợi cho thị trường lao động. Đúng ngay lúc tôi vừa hoàn thành khóa đào tạo cao cấp. Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đến, kéo theo năm mươi năm bùng nổ số lượng tuyển sinh của khoa học kinh tế. Thế hệ của tôi đã có một hướng đi mạnh mẽ sau khi chiến tranh kết thúc. Người thầy nổi tiếng của tôi đã trở thành giáo sư chính ngay sau năm 1940. Wunderkinds ở thế hệ của tôi có thể được phong tước giáo sư khi 30 tuổi. Bên ngoài cuộc sống ẩn dật, các nhà kinh tế được các chính phủ, các tập đoàn, các thương nhân phố Wall, và các nhà xuất bản săn tìm.

Người ta bắt đầu hiểu được ý nghĩa tiểu sử trong bài nghiên cứu của một học giả. Trước khi vào đại học, tôi chưa bao giờ giở cuốn bản thảo của Adam Smith trong giá sách của cha tôi. Nhưng tôi trải nghiệm trực tiếp, vào lúc tôi còn là một thanh niên, sự biến mất của nền kinh tế phi mã, việc bắt đầu có hệ thống ống nước trong nhà và đèn điện. Sau đó sóng radio truyền trong không gian và phim truyền hình xuất hiện.

Quan trọng hơn là được tận mắt nhìn thấy thời kì phát đạt trong cuộc chiến ngày 1 tháng 9 tại Mỹ. Những công nhân Đông Âu, Ấn Độ vui mừng khôn xiết khi có thể làm việc luân phiên 12h, bảy ngày trong tuần. Tôi và cả gia đình tôi đã thấy được một chặng đường khó khăn, tình trạng suy thoái kế tiếp thời kì phát đạt như bầy chim sẻ bay theo chú ngựa. và khi mới 10 tuổi tôi sống ở Miami Beach, Florida, lần đâu tiên tôi cảm nhận được tính bấp bênh của bất động sản là thế nào. và nó sẽ như thế nào nếu ảo tưởng vỡ tung.

Tất cả điều đó đã làm tôi sẵn sàng đối mặt với cơn đại suy thoái và những cuộc lạm phát trong chiến tranh. Tài năng được huấn luyện ở Chicago kiên quyết chống lại cuộc cách mạng của học thuyết kinh tế Keynes; nhưng lẽ phải chiến thắng truyền thống và giáo điều.

Sau tất cả những sự kiện đó, tôi nhìn lại một phần chín thập kỉ đã qua trong sự nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế học dài đằng đẵng của mình, tôi nhận ra tất cả những tình tiết đầy may mắn đó phải được hiểu là tương phản với bối cảnh các xu hướng chủ yếu trong lịch sử kinh tế. may mắn của tôi là có một chỗ ngồi trên khán đài để từ đó có thể quan sát phần lớn lịch sử kinh tế cơ bản của một thế kỉ. Đó là một niềm hạnh phúc trong thời kì mở đầu các cuộc cách mạng vĩnh viễn thay đổi kinh tế học.

Tôi luôn luôn phải trả giá quá cao để làm những gì chỉ là niềm vui thích.
 
   
     
 
Thảo luận (0) Thành viên ưa thích (1)
Trang trước   -  1/0  -   Trang sau
 
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Jean-Baptiste Say (1776 - 1832)
Adam Smith (1723 - 1790)
Thomas Robert Malthus (1766 - 1834)
André-Marie Ampère (1775 - 1836)
Một tinh thần làm việc không mệt mỏi
Tưởng nhớ Milton Friedman (1912-2006)
Ông vua toán học
 
 
 
 

Đăng ký:216481 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4963

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.