|
Người gửi:
--
08/07/2008 11:12 PM
Nông thôn cần một chiến lược phát triển bền vững
Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Chùm bài viết của DNSGCT
(
Bình chọn:
--
:
--
Số lần đọc:
4190)
- Những thông số gần đây về hiện tượng “công nghiệp hóa, đô thị hóa” đất nông nghiệp chắc chắn làm nhiều người phải giật mình. Một thống kê của Bộ Tài nguyên - Môi trường cho thấy trong vòng năm năm 2001 - 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp tới trên 366.000ha, chiếm 3,9% đất nông nghiệp đang sử dụng, bình quân mỗi năm thu trên 73.000ha. Chỉ tính riêng thủ đô Hà Nội, hàng năm có hơn 1.000ha đất bị thu hồi, trong đó 80% là đất nông nghiệp để phục vụ các dự án công nghiệp. Theo dự kiến năm 2008, Hà Nội sẽ thu hồi 1.500ha, trong đó 904ha đất hai vụ lúa. Còn ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất không những được mệnh danh là vựa lúa mà còn vựa trái cây của cả nước, báo chí gần đây cũng lên tiếng về hiện tượng “ruộng vườn teo tóp” trước sức ép từ quá trình “hiện đại hóa” mà trong đó, sự ra đời của hàng loạt khu công nghiệp (KCN) đang giữ vai trò then chốt.
Sức hút “công nghiệp hóa”
Không khó để nhận ra “sự phát triển các KCN” gần đây đã trở thành một cụm từ thời thượng trên các mặt báo. Báo điện tử Vietnamnet ngày 21/3/2008 dẫn lại nguồn báo Nông nghiệp Việt Nam đưa tin về trường hợp điển hình của Hưng Yên. Đến năm 2008, tỉnh này đã quy hoạch tới 20 KCN tập trung, cần tới 6.155ha đất vào năm 2015 và 9.305ha năm 2020. Bốn KCN thuộc các huyện Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ và thị xã Hưng Yên, có tổng diện tích bị thu hồi là 500ha cũng đã được quy hoạch và mời gọi đầu tư. Tại Hải Dương, riêng một huyện Bình Giang đến nay đã thu hút được 52 dự án, với tổng diện tích gần 830.000m2. Dọc xuống phía Nam, chỉ riêng ở Vĩnh Long, KCN Bình Minh đã “xóa sổ” trên 130ha trồng bưởi năm roi, đặc sản của vùng này. Ở một vài tỉnh khác, các KCN như Sa Đéc, Trần Quốc Toản, Sông Hậu (Đồng Tháp) với tổng diện tích gần 233ha, hay sắp sửa thành hình như Bình Hòa, Bình Long (An Giang) với diện tích 170ha cũng góp phần vào “xu hướng phát triển chung”. Trả lời báo giới, Giám đốc Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (Chi nhánh Cần Thơ), Võ Hùng Dũng còn cho biết: đồng bằng sông Cửu Long hiện nay có 111 khu, cụm công nghiệp với diện tích 24.000ha. Mỗi tỉnh dành khoảng 500 - 700ha làm công nghiệp, trung bình chiếm 43% diện tích chung. Theo ông, con số này không lớn nếu xét trên mặt bằng chung cả nước, nhưng điểm mấu chốt ở đây là động cơ quy hoạch lại xuất phát từ tâm lý “phong trào”.

Khu công nghiệp An Nghiệp (Sóc Trăng) đang “hóa kiếp” những đồng lúa | Nếu những thông số, sự kiện trên tiếp tục phát triển như trào lưu hiện nay, một bức tranh nông thôn Việt Nam dự đoán trong vòng năm năm tới, có thể hiện rõ hai gam màu chủ đạo. Thay vì màu xanh của ruộng đồng là màu xám (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) của những KCN mọc lên như nấm sau mưa. Một gam màu khác khó đoán hơn để mô tả cuộc sống của người nông thôn thời công nghiệp hóa. Theo lập luận thông thường, tập trung vào công nghiệp là con đường thường thấy để phát triển ngành kinh tế. Các nền kinh tế đi trước như Anh (đầu thế kỷ XVIII), Đức (từ năm 1848) hay Nhật Bản dưới thời Minh Trị (1868), hay gần nhất là Đài Loan, Hàn Quốc (những năm 1960-1970) đã cho thấy tác động thần kỳ của chiến lược công nghiệp hóa. Câu hỏi đặt ra là: Những vấn đề gì có thể sẽ phát sinh đằng sau những thay đổi này?
Hòn đất mà biết nói năng Về lý thuyết, có nhiều góc nhìn khác nhau để phân tích sự chuyển hóa ở nông thôn Việt Nam, nhưng dường như chưa có đánh giá cụ thể về số phận của người nông dân sau khi ruộng vườn, ao hồ phải nhường chỗ cho nhà máy, xí nghiệp. Mặc dù chiếm tỷ trọng cao nhất trong thành phần xã hội - những người nông dân vốn xem nông nghiệp là cái nghiệp ở đời lại ít được đào tạo nhất. Theo số liệu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trên 83% lao động ở nông thôn chưa qua đào tạo bất kỳ chuyên môn gì, trong khi tỷ lệ này ở thành thị là 49%. Có tới 20% lao động ở nông thôn thất nghiệp, tương đương khoảng 4,8 triệu người, cộng thêm hàng triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động mỗi năm. Những con số này sẽ trở nên nghiêm trọng hơn trong khung cảnh đất nông thôn càng ngày càng bị thu hẹp về diện tích. Một chi tiết thống kê rất đáng lưu tâm được nhiều báo trích dẫn: khi mỗi hecta đất nông nghiệp bị “xà xẻo” sẽ kéo theo 13 người rơi vào tình cảnh không có việc làm. Điển hình, mỗi năm, Hà Tây có 28 - 30 ngàn lao động đổ ra thành thị kiếm sống, trong khi con số này ở Quảng Nam là 46 ngàn người. Không khó để nhận ra những hậu quả tiêu cực: sức ép nhập cư, ùn đẩy của dân tứ xứ dồn về những trung tâm lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh hay Đà Nẵng để kiếm cơ hội “đổi đời”. Do hạn chế về khả năng và trình độ, khả năng “trụ l¬ại” ở thành phố của họ rất thấp. Luận điểm thứ hai quan trọng không kém là vai trò đất đai dưới góc nhìn của người đền bù và được đền bù, hay nói cách khác là giữa người dân và chính quyền sở tại. Bình luận về đề tài này, xin trích ý kiến của tiến sĩ Vũ Tuấn Anh (Viện Kinh tế Việt Nam) tại buổi tọa đàm theo chủ đề “Những vấn đề xã hội của nông dân và nông thôn Việt Nam hiện nay” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức gần đây tại Hà Nội. Tính từ 1945 trở lại đây, nông thôn Việt Nam đã trải qua bốn cuộc chuyển đổi chính về đất đai: cuộc cải cách ruộng đất hồi những năm 1950-1960, hợp tác hóa nông thôn, khoán 10 trong nông nghiệp và cuộc cách mạng công nghiệp mới ở thời kỳ đổi mới. Những thay đổi này đã làm đảo lộn lớn cuộc sống của người dân. Hiện tại, trong vòng năm năm 2000-2005, đã có hai triệu hộ gia đình bị thu hồi đất. Nhận xét rằng chúng ta vẫn còn thụ động trước những đổi thay này và chỉ chập chững chuẩn bị đối phó là chính, ông Vũ Tuấn Anh cho rằng vai trò của chính quyền địa phương trong việc giao đất quá lớn, trong khi chính quyền Trung ương lại buông lỏng quản lý. Chính vì được tiến hành một cách tự phát, người dân gần như không có quyền đàm phán, buộc phải phục tùng, chấp nhận. Hậu quả lâu dài là những mâu thuẫn về quyền lợi đã thúc đẩy hàng đoàn người dân xếp hàng khiếu kiện vì mất đất đai mà không được đền bù thỏa đáng. Khó có thể hình dung về môi trường sống của người nông dân trong tương lai không xa, khi đánh đổi tài nguyên thiên nhiên, môi trường, phong tục, bản sắc văn hóa để được cái lợi vật chất ngắn hạn. Người nông dân - chủ thể của nông thôn Việt Nam sẽ nói gì nếu màu xanh của làng quê biến thành màu xám của nhà máy và thôn quê, làng xã mất dần đi tính cộng đồng được truyền từ bao thế hệ. Có thể mọi thứ đều đang xảy ra như con tàu chạy trên đường ray định mệnh nếu muốn cập nhà ga “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Cái khó là làm sao giảm thiểu được đến mức thấp nhất những nhóm bị thiệt hại đang đồng hành. Một cuộc tranh luận nghiêm túc về đề tài này mà trong đó, người nông dân giữ vai trò đối tượng nghiên cứu chủ đạo, đang là một nhu cầu bức thiết. Rất cần một chiến lược phát triển sáng suốt, đảm bảo tăng trưởng kinh tế song song với những biện pháp bền vững lâu dài cho nông thôn và nông dân. Bài www.SAGA.vn hợp tác với Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần, số 253, ra ngày 13/06/2008
www.SAGA.VN l Trương Minh - DNSGCT
|