Tôi vừa đọc được một bài báo rất hay nói về vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế của tác giả Vương Quân Hoàng, nick trên Saga là Dr.Vương, viết cách đây gần chục năm, vào tháng 11/1998, trên tạp chí Vietnam Investment Review. Bài báo khá cũ nhưng theo tôi vẫn còn giá trị sử dụng tới tận bây giờ và sau này nữa. Xin chia sẻ với các Saganor nội dung tóm tắt của bài báo trên, bài dịch còn nhiều chỗ chưa hợp lý, hoặc chưa theo sát ý của tác giả, mong các saganor vừa đọc vừa điều chỉnh giúp.
-------------------------------------------------------------------
Những năm trước đây, khi đầu tư nước ngoài còn bị hạn chế bởi những chính sách, luật lệ thắt chặt, không đủ khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, mặt khác vai trò thống trị nền kinh tế của khu vực kinh tế nhà nước không còn như trước đây nữa thì khu vực kinh tế tư nhân bắt đầu có những bước phát triển mới. Trong bối cảnh đó, tác giả Vương Quân Hoàng đã chỉ rõ vai trò quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam như là chìa khóa cho sự ổn định về kinh tế, tài chính trong tương lai.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực kinh tế tư nhân có ảnh hưởng khá lớn tới nền kinh tế. Những năm 1991 - 1997, giá trị của các doanh nghiệp tư nhân khoảng 3 tỷ đô la, góp phần tạo ra hơn 3,5 triệu việc làm và góp phần vào sự tăng trưởng GDP. Trong khu vực kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp lớn chỉ chiếm khoảng 10%, 90% còn lại là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tuy nhiên, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ đóng góp
từ 2 - 3 % vào tăng trưởng GDP hàng năm, một con số quá nhỏ bé so với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là khó khăn về tài chính. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong vấn đề vay vốn từ Chính phủ. Trong năm 1996 - 1997, có tới 40% có khi lên tới 50 - 55 % quỹ tín dụng quốc gia được tài trợ cho doanh nghiệp nhà nước, trong khi đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu như không có sự hỗ trợ hay bảo đảm của Chính phủ thì cũng khó mà nhận được phản hồi tốt đẹp trong các khoản vay, không được chào đón dù dự án có khả thi đến mấy.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn,nhưng tình hình vẫn còn rất lạc quan. Bởi "Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có phản ứng tốt hơn trong các cuộc khủng hoảng bởi họ linh động hơn, họ nhanh chóng bắt kịp với xu thế của thị trường, trong khi các doanh nghiệp nhà nước còn chưa kịp thay đổi gì nhiều."
Để thành công, các doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp, bảo vệ tài sản cố định và duy trì khả năng thanh toán ngắn hạn.Có hai công cụ của nền kinh tế là hệ số khả năng thanh toán nợ hiện tại và hệ số khả năng thanh tóan nợ nhanh được sử dụng để đánh giá khả năng thanh tóan của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hai công cụ trên khá quan trọng vì ở Việt Nam các doanh nghiệp thường có ít vốn lưu động, do đó, khoản nợ ngắn hạn luôn tương quan với khả năng thanh toán của doanh nghiệp, và quan trọng nhất đó là tính thanh khoản của tài sản. Trung bình ở Việt Nam, thì hệ số khả năng thanh toán hiện hành ở mức 2,1:1, tức là một doanh nghiệp làm ăn tốt có giá trị tài sản ngắn hạn gấp 2,1 lần so với tổng nợ ngắn hạn. Trong khi lý thuyết hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn phải đạt trên 1,0 thì qua thống kê, hệ số khả năng thanh toán nợ hiện tại không thấp hơn 1,15 và không cao hơn 7,2. Nếu hệ số này dưới 1,15 thì doanh nghiệp đó hoạt động không hiệu quả và đang ở trong tình trạng tài chính yếu, không có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy vậy, hệ số này mà khoảng 3,0:1 thì cũng không hiệu quả do thặng dư tiền mặt nhàn rỗi và hàng tồn kho chưa bán được.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên duy trì mức thanh khoản của tài sản cao để đảm bảo vấn đề tài chính. Hệ số thanh tóan nợ nhanh (acid-test) gấp khoảng 1,2 lần so với nợ hiện tại phải trả. Gần 80% doanh nghiệp hiệu quả có tài sản thanh toán nhanh là tiền mặt và khỏan phải thu ở trong khoảng 0,5 - 2,5 so với tổng nợ hiện tại. Rất ít các doanh nghiệp, chỉ khoảng 5 % là có hệ số khản năng thanh tóan nhanh ở trên 2,5:1.
| Phân phối giá trị của hệ số thanh toán nợ ngắn hạn. |
| Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn |
Lần |
Mức độ |
Phần trăm trên tổng |
| Mức độ trung bình |
2.09 |
Từ 0 - 1.1 (*) |
0 |
| Độ lệch chuẩn |
1.33 |
Lớn hơn 1.0 đến 1.4 |
33 |
| Mức thấp |
1.15 |
Lớn hơn 1.4 đến 2.0 |
50 |
| Mức cao |
7.21 |
Lớn hơn 2.0 |
17 |
|
|
Tổng |
100% |
|
|
|
|
| Hệ số thanh toán nợ nhanh |
Lần |
Mức độ |
Phần trăm trên tổng |
| Mức độ trung bình |
1.19 |
Từ 0 đến 0.55 |
17 |
| Độ lệch chuẩn |
0.88 |
Lớn hơn 0.55 đến 1.39 |
56 |
| Mức thấp |
0.42 |
Lớn hơn 1.39 đến 2.50 |
22 |
| Mức cao |
4.27 |
Lớn hơn 2.50 |
5 |
|
|
Tổng |
100% |
Bằng cách hồi quy tuyến tính cho thấy tỷ lệ tài sản ( trên tổng tài sản) và tỷ lệ nợ ngắn hạn phải trả có mối liên hệ với nhau. Trung bình tỷ lệ tài sản trong mối quan hệ với tổng tài sản hiện tại ở mức trên 61 %, mặc dù tỷ lệ cao nhất đạt được là 90%. Với 1 doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động tốt thì sự giao động 17% được xem như một mức chênh lệch chuẩn cho tỷ lệ tài sản. Tỷ lệ thấp nhất của tài sản trong tổng tài sản là 25%, mặc dù tài sản gấp tới 4 lần so với con số này.
Việc áp dụng các hệ số vốn trong tính toán để đánh giá nguồn tài chính và nợ ngắn hạn là đòn bẩy cho vốn doanh nghiệp, hay nói cách khác là những doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu có khoản nợ trung bình phải trả chiếm tới 67% trong tổng nghĩa vụ nợ tài chính.
Nhiều nguồn tài chính, kể cả ngắn hạn và dài hạn, đều khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể vay. Vì vậy theo như kết quả thì hầu hết các doanh nghiệp cho biết họ sẵn sàng đi vay để cấp vốn cho những tài sản lâu dài ( quá 2 năm), và không giữ lại khoản thu nhập.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng khó mà vay được vốn ngân hàng, bơi các yêu cầu quá khắt khe và những thành kiến đã ăn sâu bám rễ.