Ngày 31 tháng 12 năm 2007, Bộ Y Tế đã ra Quyết định số 48/2007/QĐ-BYT (“Quyết định 48”) về việc ban hành Quy chế Quản lý Mỹ phẩm (“Quy chế mới”) thay thế cho Quyết định số 35/2006/QĐ-BYT ngày 10/ 11/2006 (“Quyết định 35”) về việc ban hành Quy chế Quản lý Mỹ phẩm (“Quy chế cũ”)và một số văn bản khác liên quan đến việc quản lý chất lượng, quảng cáo, ghi nhãn và xuất nhập khẩu sản phẩm mỹ phẩm.
Theo Quy chế mới, việc bắt buộc đăng ký lưu hành đối với một số loại mỹ phẩm như được nêu cụ thể trong Phụ lục 01 của Quyết định 35 đã được bãi bỏ và chỉ yêu cầu công bố sản phẩm
mỹ phẩm đối với tất cả các loại mỹ phẩm cho dù là được sản xuất trong nước hay nhập khẩu để lưu thông tại Việt Nam. Việc công bố sản phẩm mỹ phẩm được tiến hành tại Cục Quản lý dược thuộc Bộ Y tế và do tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm mỹ phẩm ra thị trường thực hiện trước khi đưa sản phẩm ra lưu thông trên thị trường. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm mỹ phẩm ra thị trường bao gồm : (i) là tổ chức, cá nhân sản xuất ra sản phẩm mỹ phẩm trong nước, (ii) tổ chức, cá nhập khẩu trực tiếp hoặc hoặc uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu sản phẩm mỹ phẩm để lưu thông tại Việt Nam, và (iii) tổ chức, cá nhân làm đại lý trực tiếp bán sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu vào Việt Nam của thương nhân nước ngoài, với điều kiện các tổ chức cá nhân này phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có chức năng kinh doanh mỹ phẩm.
Việc công bố sản phẩm mỹ phẩm theo Quy chế mới này là bắt buộc đối với tất cả các loại mỹ phẩm mới, bao gồm cả các sản phẩm mỹ phẩm chưa được đăng ký lưu hành hoặc công bố với Cục Quản lý dược Việt Nam, những sản phẩm đã lưu hành trên thị trường, nhưng có thay đổi về thành phần, công thức. Đối với các sản phẩm mỹ phẩm nước ngoài đã được cấp số đăng ký lưu hành hoặc công bố tiêu chuẩn chất lượng trước đây, thì sẽ được phép tiếp tục lưu hành đến hết thời hạn đăng ký hoặc đến 31/12/2010, tùy theo ngày nào sớm hơn. Sau đó, nếu tổ chức, cá nhân muốn tiếp tục lưu hành sản phẩm mỹ phẩm tại thị trường Việt Nam phải tiến hành công bố theo Quy chế mới này. Riêng đối với sản phẩm mỹ phẩm đã công bố hoặc đã đăng ký lưu hành được nhập khẩu vào Việt Nam trước ngày 31/12/2010 vẫn tiếp tục được lưu hành trên thị trường đến hết hạn dùng của sản phẩm nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tại quy chế mới này.
Hồ sơ xin công bố sản phẩm mỹ phẩm bao gồm các tài liệu: (i) bản công bố sản phẩm mỹ phẩm theo biểu mẫu do Bộ Y Tế ban hành, (ii) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép đầu tư (nộp vào lần công bố đầu tiên), và (iii) đĩa mềm các dữ liệu công bố. Cục Quản lý dược Việt Nam có trách nhiệm ban hành số tiếp nhận hồ sơ công bố trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ công bố hợp lệ cùng lệ phí công bố theo qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Số tiếp nhận hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng mỹ phẩm có giá trị 03 năm và việc công bố lại phải được tiến hành ít nhất 01 tháng trước khi số tiếp nhận hồ sơ công bố hết hạn và phải nộp lệ phí theo quy định. Sau khi công bố, nếu có sự thay đổi về nội dung đã công bố đối với sản phẩm mỹ phẩm, tổ chức cá nhân đã công bố phải tiến hành việc công bố lại tại Cục Quản lý Dược.
Quy chế mới cũng đã quy định cụ thể hơn so với Quy chế cũ về việc đảm bảo tính an toàn, hiệu quả của sản phẩm mỹ phẩm đưa ra thị trường. Cụ thể, Quy chế mới quy định các tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường phải đảm bảo các sản phẩm của mình không có hại đối với sức khoẻ con người khi được sử dụng đúng theo các thông tin hướng dẫn sử dụng và việc đánh giá tính an toàn trên mỗi sản phẩm mỹ phẩm phải tuân theo Hướng dẫn đánh giá tính an toàn mỹ phẩm của ASEAN. Ngoài ra, phù hợp với Hiệp định về Hệ thống hòa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm 02/9/2003, Quy chế mới đã nêu cụ thể những phụ lục hoặc phần phụ lục của Hiệp định này mà trong đó nêu rõ các thành phần bị cấm sử dụng, các thành phần có thể sử dụng và thời hạn được phép sử dụng các một số thành phần cụ thể trong sản phẩm mỹ phẩm lưu hành tại Việt Nam.
Liên quan đến việc nhập khẩu mỹ phẩm, Quy chế mới quy định các sản phẩm mỹ phẩm chỉ được nhập khẩu để lưu thông tại Việt Nam sau khi được công bố sản phẩm tại Cục Quản lý dược, trừ những sản phẩm mỹ phẩm được nhập khẩu để nghiên cứu, kiểm nghiệm và các loại mỹ phẩm đã được cấp số đăng ký lưu hành theo quy chế cũ (chỉ đến hết thời hạn đăng ký hoặc đến ngày 21/12/2010, tùy theo ngày nào sớm hơn). Các loại sản phẩm mỹ phẩm như vậy được phép nhập khẩu vào Việt Nam theo nhu cầu, không bị hạn chế về số lượng, giá trị, và không phải xin giấy phép nhập khẩu hoặc xác nhận đơn hàng nhập khẩu.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 9/3/2008.