Bảng 1: Mô tả thống kê các biến. Nguồn: tính toán từ chương trình Eview.
Bảng 2: Tóm tắt mô tả thống kê các biến theo loại hình sở hữu doanh nghiệp
Nguồn: tính toán từ chương trình Eview.
Bảng 2 tóm tắt kết quả thống kê mô tả các biến phân theo loại hình sở
hữu của các công ty đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM.
Từ bảng 2 có thể thấy:
* Tổng nợ vay/tổng tài sản bình quân của các công ty là 41,6%;
trong đó, công ty có tổng nợ vay cao nhất là 78,89% và thấp nhất là
3,99%. Công ty nhà nước có mức tổng nợ vay bình quân là 51,15% cao hơn
so với mức bình quân 38,54% của các công ty khác. Mức tổng nợ vay này
thấp hơn, nhưng chênh lệch không đáng kể so với Trung Quốc là 48,17%
(Chen, 2004) và mức này cũng thấp hơn một chút so với mức bình quân là
51% của các nước đang phát triển (Booth, 2001).
* Tỷ lệ nợ ngắn hạn/tổng tài sản bình quân là 30,74%; trong đó cao
nhất là 65,38% và thấp nhất là 3,19%. Công ty nhà nước có mức nợ ngắn
hạn bình quân là 31,98% cao hơn một chút so với mức 30,34% của các công
ty khác.
* Tỷ lệ nợ dài hạn/tổng tài sản bình quân của các công ty là
10,89%. Công ty nhà nước có mức nợ dài hạn bình quân là 19,17% cao hơn
so với mức 8,21% của các công ty khác. Tỷ lệ nợ dài hạn này cao hơn một
chút so với Trung Quốc là 6,31% (Chen, 2004) và thấp hơn mức bình quân
là 41% của các nước G-7 (Rajan và Zingales, 1995) và 22% ở các nước
đang phát triển (Boot, 2001). Tại sao các công ty Việt Nam lại có tỷ lệ
nợ vay dài hạn bình quân thấp như vậy? Một lý do để giải thích là thị
trường trái phiếu công ty của Việt Nam chưa phát triển. Các ngân hàng
là nguồn vốn chủ yếu từ bên ngoài tài trợ cho các công ty. Kết quả là
các công ty phải dựa nhiều vào nguồn tài trợ là vốn chủ sở hữu và các
khoản phải trả (nợ ngắn hạn).
* Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản bình quân của các công ty là
25,86%. Công ty nhà nước có tốc độ tăng trưởng bình quân là 12,81% thấp
hơn nhiều so với mức 30,08% của các công ty khác.
*
ROA bình quân của các công ty này là 12,22%; trong đó công ty có
ROA cao nhất là 39,3% và thấp nhất là 3,7%. Các công ty nhà nước và các
công ty khác có ROA bình quân xấp xỉ nhau là 12%.
* Xét về quy mô thì các công ty nhà nước có quy mô lớn hơn một chút so với các công ty khác.
* Tỷ lệ tài sản cố định hữu hình bình quân/tổng tài sản của các
công ty là 20,42%. Công ty nhà nước có tỷ lệ bình quân là 26,39% cao
hơn nhiều so với mức 18,49% của các công ty khác.
4. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm được trình bày ở các bảng bên dưới cho
thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ nợ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Từ bảng 2 cho thấy tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu tác động dương đến hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là tỷ lệ nợ càng cao thì càng
làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tỷ lệ sở hữu nhà nước tác động âm
đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Bảng 2: Tác động của tổng nợ/vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Mô hình 1)
** Có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%
Nguồn: tính toán từ chương trình Eview.
Bảng 3: Tác động của tổng nợ ngắn hạn/tổng tài sản đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Mô hình 1)
* Có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1%
Nguồn: tính toán từ chương trình Eview.
Bảng 4: Tác động của tổng nợ dài hạn/tổng tài sản đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Mô hình 1)
** Có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%
Nguồn: tính toán từ chương trình Eview.
Bảng 3 cho thấy nợ ngắn hạn tác động dương đến lợi nhuận của doanh
nghiệp, điều này ngược với các nghiên cứu trước là do nợ ngắn hạn chiếm
tỷ trọng cao trong tổng nợ của doanh nghiệp và nợ ngắn hạn có tương
quan cao với tổng nợ (hệ số tương quan là 0,7). Tỷ lệ sở hữu nhà nước
tác động âm đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Bảng 4 cho thấy lợi nhuận
của doanh nghiệp không có mối liên hệ gì với nợ dài hạn của doanh
nghiệp là do các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
TP.HCM sử dụng nợ ngắn hạn nhiều hơn nợ dài hạn.
Mô hình 2 và 3 cho thấy hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có mối liên hệ
bậc hai và bậc ba chặt chẽ với cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Ở đây chúng
tôi sử dụng phương trình bậc 2 và 3 để mô tả mối liên hệ giữa hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp với cơ cấu vốn nhằm loại trừ trường hợp rất hiếm
gặp đó là
tỷ lệ nợ của doanh nghiệp là 100% và điều này có thể ảnh
hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu ở bảng 5 và 6 cho thấy hiệu quả hoạt động doanh
nghiệp có tương quan cao với cơ cấu vốn khi tỷ lệ nợ của doanh nghiệp
dưới 100%. Để hiểu rõ hơn, chúng tôi sẽ xác định cực trị của hàng bậc 2
và bậc 3, cực trị của hàm bậc 2 là 1,812 và cực trị của hàm bậc 3 là
0,9755 và 2,799. Từ hàm bậc 2 cho thấy, hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp có tương quan âm với cơ cấu vốn khi tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu lớn
hơn 1,812. Khi tỷ lệ này dưới 1,812 thì kết quả ngược lại.
Tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu bình quân của các doanh nghiệp niêm yết tại
TP.HCM là 0,9286, thấp hơn so với mức 1,812, nên hiệu quả hoạt động
doanh nghiệp có tương quan thuận với cơ cấu vốn. Từ hàm bậc 3 cho thấy
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có tương quan dương với cơ cấu vốn
khi tỷ lệ nợ/vốn chủ sở nằm trong khoảng 0,9755 và 2,799. Khi tỷ lệ
nợ/vốn chủ sở thấp hơn 0,9755 hay cao hơn 2,799, thì kết quả ngược lại.
Điều này phù hợp với nghiên cứu của Maslis tại Mỹ; nghiên cứu của Wei
Xu tại Trung Quốc và cho thấy lý thuyết về cơ cấu vốn có thể vận dụng
tại Việt Nam.
Tốc độ tăng trưởng, quy mô của doanh nghiệp và
tài sản cố định không có ý nghĩa về mặt thống kê trong cả ba mô hình nghiên cứu.
Bảng 5: Tác động của tổng nợ/vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Mô hình 2)
** Có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%
Nguồn: tính toán từ chương trình Eview.
Bảng 6: Tác động của tổng nợ/vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Mô hình 3)
** Có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%
Nguồn: tính toán từ chương trình Eview.
5. Kết luận
Bài viết này phân tích mối liên hệ giữa hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp với cơ cấu vốn. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp bị tác động bởi cơ cấu vốn. (1) Hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp có tương quan dương với cơ cấu vốn. (2) Hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp có mối liên hệ bậc hai và bậc ba chặt chẽ với cơ cấu
vốn của doanh nghiệp khi tỷ lệ nợ dưới 100%. Hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp có tương quan âm với cơ cấu vốn khi tỷ lệ nợ/vốn chủ sở
hữu lớn hơn 1,812, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có tương quan
dương với cơ cấu vốn khi tỷ lệ nợ/vốn chủ sở nằm trong khoảng 0,9755 và
2,799. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Maslis và Wei Xu.
Từ những phân tích định lượng trên có thể đưa ra một số gợi ý như sau:
Thứ nhất, từ hàm bậc 2 (mô hình 2) cho thấy, hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp có tương quan âm với cơ cấu vốn khi tỷ lệ nợ/vốn chủ sở
hữu lớn hơn 1,812. Khi tỷ lệ này dưới 1,812 thì kết quả ngược lại. Tỷ
lệ nợ/vốn chủ sở hữu bình quân của các doanh nghiệp niêm yết tại TP.HCM
là 0,9286, thấp hơn so với mức 1,812, nên hiệu quả hoạt động doanh
nghiệp có tương quan thuận với cơ cấu vốn. Vì vậy các doanh nghiệp có
thể tăng sử dụng nợ để gia tăng lợi nhuận và từ đó có thể làm gia tăng
giá trị công ty.
Thứ hai, tỷ lệ sở hữu nhà nước tác động âm đến hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp có thể giải thích là do có quá nhiều lãi suất ưu đãi trong
nền kinh tế: lãi suất cho vay vốn giải quyết việc làm, lãi suất cho vay
trồng rừng nguyên liệu, cơ chế miễn giảm lãi suất cho một số doanh
nghiệp Nhà nước và chương trình của Chính phủ, giảm 100% lãi vay đối
với một số chương trình kinh tế của tỉnh, thành phố…Việc tồn tại quá
nhiều lãi suất ưu đãi vừa làm bóp méo
thị trường tiền tệ, vừa tạo ra
cơ chế xin cho, tâm lý ỷ lại của các doanh nghiệp nên hiệu quả đầu
tư chưa cao. Vì thế, chi phí sử dụng vốn không còn mang tính
chất bao cấp hay phi thương mại như hiện nay mà phải được xác định trên
cơ sở lãi suất thị trường sao cho đúng với chi phí vốn chủ sở hữu, được
xác định trên cơ sở tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng đạt được của vốn chủ sở
hữu. Điều này đảm bảo cho các doanh nghiệp Nhà nước có được những dự án
có khả năng sinh lời cao nhất, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhà
nước.
Mặc dù nghiên cứu này đã đạt được những kết quả có giá trị, giúp các
nhà quản lý, các nhà khoa học có được những bằng chứng thực nghiệm về
các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết
trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, nghiên cứu này còn một số hạn
chế, cụ thể như sau:
Do hạn chế về thông tin và số liệu nên chỉ đo lường hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp bằng chỉ tiêu lợi nhuận kế toán mà chưa thể đo lường
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bằng các biến số liên quan đến giá
trị thị trường của công ty. Đây cũng là một vấn đề quan trọng trong
quản trị tài chính doanh nghiệp.
Chưa nghiên cứu cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp dựa trên mối quan
hệ với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chưa phân tích được đặc
điểm của từng loại hình doanh nghiệp và cơ cấu vốn của đặc thù từng
ngành tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp của như giá trị
thị trường của doanh nghiệp.
Các biến xem xét vẫn chủ yếu là các biến số thuộc nội tại của doanh
nghiệp mà chưa xem xét đến các biến số môi trường bên ngoài công ty.
Những hạn chế vừa nêu trên cũng là những gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo.
Tài liệu Tham khảo
1. R. Zeitun, G.G Tian, Capital structure and corporate performance:
evidence from Jordan, Autralasian Accouting Business and Finance
Journal, Vol 1, Issue 4- 2007.
2. A. Berger, E. B Patty, Capital structure and firm performance: A
new approach to testing agency theory and an application to the banking
industry, Journal of Banking and Finance 30 (2006).
3. Wei Xu, Xiangzhen Xu, Shoufeng Zhang, An empirical study on
relationship between corporation performance and capital structure,
China-USA Business Review, Apr 2005.
4. D. Ratha, S. Mohapatra, P. Suttle, Capital structure and performance in Developing countries, Working paper.
5. D. Margaritis, M. Psillaki, Capital structure and firm efficiency, Journal of Business Finance and Accouting 34 (9) - 2007
Bài viết đã được đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế của ĐHKT TPHCM tháng 12/2008