Tìm kiếm  
 
Thị trường Tài chính quốc tế Công cụ Kĩ thuật tài chính Qui hoạch Cấu trúc vốn Kế toán-Kiểm toán Tổ chức tài chính
Cấu trúc vốn | Nợ và đòn bảy tài chính | Chính sách cổ tức
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Tài chính » Cấu trúc vốn » Cấu trúc vốn

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Tóm lược một số lý thuyết về cấu trúc vốn
Sự khác nhau giữa vốn điều lệ vs. vốn chủ sở hữu và rủi ro trong kinh doanh
Cấu trúc vốn tối ưu của một doanh nghiệp-Phần I
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Quản lý nợ
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Cấu Trúc Vốn & Những Tác Động của nó.
Giới thiệu một mô hình xác định cấu trúc vốn tối ưu
Doanh nghiệp và Hành trình đi tìm Cấu trúc vốn tối ưu
Cấu trúc vốn làm tối tiểu WACC
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Giới thiệu một mô hình xác định cấu trúc vốn tối ưu  
  Cấu trúc vốn làm tối tiểu WACC  
  Các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn của công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam  
  Tóm lược một số lý thuyết về cấu trúc vốn  
  Sự khác nhau giữa vốn điều lệ vs. vốn chủ sở hữu và rủi ro trong kinh doanh  
  Cấu trúc vốn tối ưu của một doanh nghiệp-Phần I  
  Cấu trúc vốn tối ưu của một doanh nghiệp-Phần II  
  Doanh nghiệp và Hành trình đi tìm Cấu trúc vốn tối ưu  
  Nên có lời giải chính xác cho những thắc mắc về WACC  
  Quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: lamminhchanh  --   27/05/2007 03:29 PM    

Cấu Trúc Vốn & Những Tác Động của nó.

Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Loạt bài về cấu trúc vốn tôi ưu của doanh nghiệp

( Bình chọn: 6   --  Thảo luận: 4 --  Số lần đọc: 14196)

Nhìn vào bảng cân đối tài sản doanh nghiệp thì bên tay trái là tài sản có, bên tay phải là nguồn gốc tạo ra tài sản có: gồm nợ (các loại) và vốn chủ sỡ hữu cùng với lợi nhuận được giữ lại của chủ sỡ hữu. Tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sỡ hữu gọi là cấu trúc vốn. Phần đông doanh nghiệp chúng ta, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ,  nhìn nhận về tỷ lệ này khá đơn giản. Thường thì chúng ta tự nhẩm tính khi nào thì nên mượn nợ, khi nào thì kêu gọi thêm vốn chủ sỡ hữu. Dĩ nhiên những tính tóan đó phần nào cũng có “lý” của người quyết định. Tuy vậy, nếu chúng ta biết rằng, việc xác định một cấu trúc vốn để đạt hiệu quả cao nhất cho một doanh nghiệp là một vấn đề  lớn, rất quan trọng trong tài chánh doanh nghiệp, làm tốn không biết bao nhiêu bút mực của giới học thuật lẫn các nhà quản lý tài chánh kinh nghiệm, thì có lẽ chúng ta sẽ bỏ nhiều thời gian nghiên cứu và sẽ thận trọng hơn trong quyết định của mình.

343067.jpgBài này tác giả sẽ bàn đến cấu trúc vốn và những tác động chung quanh cấu trúc vốn. Bài viết kết tiếp tác giả sẽ trình bày một số phương pháp xác định cấu trúc vốn để đạt hiệu quả cao nhất.

Nợ: Ưu và khuyết điểm

Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng  nợ thay cho vốn chủ sỡ hữu đó là lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ được miễn thuế. Tong khi đó thì cổ tức hay các hình thức thưởng khác cho chủ sỡ hữu phải bị đánh thuế. Trên nguyên tắc mà nói, nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuế doanh nghiệp phải trả, và vì thế tăng giá trị của doanh nghiệp lên. Một điều cần lưu ý, với những nước mà nhà đầu tư phải trả thuế thu nhập cá nhân với mức cao thì ưu điểm này của nợ sẽ bị giảm hay trở thành yếu điểm.

Ưu điểm thứ hai của nợ, đó là thông thường nợ rẻ hơn vốn chủ sỡ hữu. – nói đơn giản là lãi suất ngân hàng, hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiều soi với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư. Do đó khi tăng nợ tức là giảm chi phí chi ra trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao lợi nhuận, cũng như gía trị của công ty. Vì tính chất này mà tỷ số nợ trên vốn chủ sỡ hữu còn được gọi là tỷ số đòn bẩy.

Tuy vậy doanh nghiệp không thể tăng nợ lên mức quá cao so với chủ sỡ hữu. Khi đó công ty sẽ rơi vào tình trạng tài chánh không lành mạnh, và dẫn đến những rủi ro khác mà chúng ta sẽ bàn trong những phần sau.

Vốn: Ưu và khuyết điểm.

Một trong những điểm không thuận lợi của vốn chủ sỡ hữu đó là giá thành (hay chi phí) của nó510902.jpg cao hơn chi phí của nợ. Dĩ nhiên rồi, vì không người đầu tư nào bỏ tiền đầu tư vào công ty gánh chịu những rủi ro về họat động và kết quả kinh doanh của công ty mà lại chịu nhận tiền lãi bằng lãi suất cho vay nợ. Việc này cùng với tính chất không được miễn trừ thuế làm cho chi phí vốn càng cao hơn.

Việc này này dẫn tới một điểm không thuận lợi khác, là khi vốn chủ sỡ hữu càng cao, số lượng người chủ sỡ hữu càng nhiều, thì áp lực về kỳ vọng của nhà đầu tư cũng như sự quản lý, giám sát của họ lên các nhà điều hành công ty càng lớn.

Tuy vậy vốn chủ sỡ hữu sẽ vẫn phải tăng khi công ty cần tiền. Tăng để cân bằng với nợ và giữ cho công ty ở trong tình trạnh tài chánh lành mạnh. Một lý do để các nhà đầu tư tăng vốn nữa là khi thị trường định giá cổ phiếu của nó cao hơn giá trị nội tại (overprice). Phát hành vốn trong trường hợp đó sẽ tạo ra lợi nhuận tài chánh cho công ty, và thực chất là tăng phần lãi nhuận cho những nhà đầu tư hiện hữu.

Nợ giúp cho các nhà điều hành thận trọng hơn khi đầu tư:

Thực tế từ các thị trường cho thấy, đối với các công ty dồi dào tiền mặt, và không có khả năng tăng trưởng nhanh, các nhà quản lý hay có khuynh hướng đầu tư tiền vào những dự án “ồn ào” nhưng không hiệu quả, hoặc dùng tiền, tăng chi phí để tạo ra tăng trưởng.  Dĩ nhiên những đồ án này không tạo ra giá trị cao cho công ty. Thuật ngữ tài chánh gọi việc này là overinvestment – đầu tư thái quá. Nếu công ty không có hội đồng quản trị giám sát chặt chẽ  thì hiệu ứng đầu tư thái quá này này sẽ xảy ra nhiều. Nhưng nếu công ty mượn nợ để tài chánh cho những khoản đầu tư, thì việc phải trả lãi định kỳ, cũng như trả vốn theo định kỳ sẽ ngăn, hoặc giảm việc đầu tư thái quá này.

Nợ tạo ra chi phí “hao mòn’ doanh nghiệp và phá sản

Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản. Một công trình nghiên cứu tại Mỹ cho thấy chi phí phá sản chiếm khỏan 3% thị giá của tất cả các công ty niêm yết. Nghiên cứu còn cho thấy chi phí “hao mòn” doanh nghiệp (cost of business erosion) còn cao và nghiêm trọng hơn nhiều. Những công ty có tỷ lệ nợ cao, sẽ "nhát tay” trong việc nắm bắt những cơ hội đầu tư. Chúng cũng có khuynh hướng giảm bớt những chi phí tạo ra hiệu quả trong tương lai như chi phí nghiên cứu và phát triển, huấn luyện, xây dựng thương hiệu. Kết quả là những doanh nghiệp này đã bỏ qua những cơ hội để tăng giá trị của doanh nghiệp. Mức nợ cao còn dẫn đến những nguy cơ mất khách hàng, nhân viên và nhà cung cấp. Nguy cơ càng cao hơn khi sản phẩm của công ty có vòng đời phục vụ và bảo hành lâu dài. Một ví dụ rõ nhất là công ty xe hơi Chrysler đã bị giảm 40% doanh số khi phải đối diện nguy cơ phá sản vì nợ nần vào năm 1979.

1282706.jpgNgoài ra công ty có mức nợ cao còn tạo ra sự mâu thuẫn giữa các chủ nợ và nhà đầu tư khi công ty sắp phải ngừng họat động để trả nợ. Khi có nguy cơ đó xảy ra, các nhà đầu tư “khôn ngoan” sẽ tìm cách đầu tư dưới mức – underinvestment. Tức là họ sẽ tập trung đầu tư vào nhhững dự án, rủi ro cao, tạo ra giá trị thấp trong tương lai,  nhưng có thể đem lại tiền mặt để có thể chia dưới dạng cổ tức ngay lúc này. Trong khi đó những chủ nợ lại muốn công ty đầu tư vào những dự án ít rủi ro và tạo được giá trị cao trong tương lai. Và mâu thuẫn vì thế phát sinh.

Lý thuyết thứ tự tăng vốn:

Lý thuyết thứ tự tăng vốn – pecking order theory, cho rằng khi công ty cần tiền mặt để đầu tư vào dự án mới, công ty sẽ lần lượt thực hiện theo thứ tự sau. Đầu tiên là lợi nhuận giữ lại chưa chia của chủ sỡ hữu. Kế tiếp là mượn nợ, sau cùng là phát hành cổ phiếu.  Cũng theo lý thuyết này, sự “sốt sắng” phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp chứng tỏ rằng cổ phiếu của công ty đó đang được thị trường đánh giá cao hơn giá trị thật (overvalued).  

Lâm Minh Chánh, MBA

 (Bài đã đăng trên Nhịp Cầu Đầu Tư)

 

Những bài viết cùng tác giả:

  1. Vì sao nhân viên Việt Nam thiếu tinh thần hợp tác
  2. "Giả" - Giả tức là không thật
  3. Giao dịch tay trong: hợp pháp và bất hợp pháp
  4. Peter Lynch - Nhà quản lý tiền
  5. Phương pháp kinh doanh cổ phiếu của William J. O'Neil
  6. Phương pháp đầu tư của Warren Buffet
  7. Chiến lược Đại dương xanh từ góc nhìn của Philip Kotler đến Michael Porter
  8. Cơ hội nghề nghiệp bình đẳng - EEO

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 28/ 6 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 4)
  lamminhchanh (18/11/2007 04:26 PM) Có ích: 2/2    
 

Cám ơn Gấu Bộ đã trả lời giúp cho bạn Tiểu Linh. Những ý của bạn rất vững. Những vấn đề này mà gặp offline nói chuyện và trao đổi qua lại thì có lẻ đầy đủ và hay hơn. Mong là hôm nào đó Saga sẽ tổ chức cho chúng ta offline. Cheers. LMC

 
   
     
  tieulinh (26/10/2007 01:37 PM) Có ích: 3/3    
 
Cảm ơn anh Gaubo nhiều.Thực ra mà nói, em cũng hơi cứng nhắc trong cách suy nghĩ. Anh thông cảm, dù sao cũng mới chập chững như đứa trẻ đang bập bẹ tập đọc sách nên lúc nào cũng hỏi "tại sao?" (nhiều người phát điên lên vì em suốt ngày hỏi tại sao không thế này mà lại là thế kia). Đúng là lý thuyết chỉ được xây dựng trên một bộ mẫu, vì thế nếu cứ đem lý thuyết ra mổ xẻ thì có mà hết ngày .Còn về gợi ý của anh, em xin lĩnh hội. Không cần nổi tiếng thế giới đâu anh,chỉ cần các thầy không nói "con bé này dám đi ngược lại lời tiên huấn của ông cha,hỏng!" là em đã phải hậu tạ anh rồi.
 
   
     
  gaubo (26/10/2007 06:43 AM) Có ích: 2/2    
 

Chào em, trong lúc chờ đợi ý kiến chính thức từ anh Chánh, anh có vài ý kiến trao đổi thế này:

Câu hỏi của em có thể chia thành 3 câu hỏi nhỏ. Anh sẽ trao đổi từng câu một.

1. Khi một công ty phát hành thêm cổ phiếu để phục vụ cho dự án đầu tư sắp tới thì giá cổ phiếu của cty trên thị trường sẽ giảm?

Đúng là bằng chứng thực nghiệm cho thấy có hiện tượng khi các công ty phát hành cổ phiếu mới thì giá cổ phiếu có xu hướng giảm. Tuy nhiên, điều này cần được hiểu theo quan điểm thống kê. Tức là xét trung bình (on average) thì phát hành cổ phiếu mới sẽ làm giảm giá cổ phiếu hiện tại. Điều này không có nghĩa là mọi công ty khi phát hành cổ phiếu đều chịu tác động này.

Nếu em không nghiên cứu về Kinh tế lượng thì có thể hiểu nôm na như thế này: Nếu chúng ta nhìn vào 1.000 công ty phát hành cổ phiếu mới thì có thể thấy giá cổ phiếu của 950 công ty bị giảm, nhưng vẫn có 50 công ty có giá cổ phiếu tăng. Như vậy, tại một thời điểm cụ thể, với một công ty cụ thể thì KHÔNG THỂ nói trước được việc phát hành cổ phiếu sẽ làm giảm hay tăng giá cổ phiếu của công ty đó. Nếu thầy giáo em nói rằng “cứ thấy cty phát hành thêm cổ phiếu là giá cổ phiếu của công ty đó giảm” thì theo anh quan điểm đó không chính xác.

2. Vì sao khi phát hành cổ phiếu mới giá cổ phiếu lại có xu hướng giảm?

Hiện nay chưa có một lý thuyết nào có thể giải thích được hiện tượng này một cách đầy đủ. Một giả thuyết được chấp nhận tương đối rộng rãi là: do hiện tượng “thông tin không cân xứng” giữa nhà đầu tư và nhà quản lý doanh nghiệp, nhà đầu tư tin rằng các nhà quản lý có nhiều thông tin hơn về triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai, do đó có thể biết được cổ phiếu hiện tại được đánh giá đúng hay sai. Nếu nhà quản lý thấy cổ phiếu hiện tại bị đánh giá quá cao (overvalued) thì sẽ phát hành thêm cổ phiếu mới để tận dụng nguồn vốn rẻ. Vì suy nghĩ như vậy nên khi một doanh nghiệp phát hành cổ phiếu mới, các nhà đầu tư thường suy luận rằng giá cổ phiếu đang quá cao. Kết quả là giá cổ phiếu bị điều chỉnh giảm xuống.

Giải thích của em “do nhà đầu tư thấy rằng lợi nhuận trong ngắn hạn chưa thể tăng nhiều trong khi phải chia cho nhiều cổ phần hơn nên cổ tức sẽ giảm =>giá cổ phiếu giảm” không hợp lý, vì nhà đầu tư đâu chỉ nhìn vào “lợi nhuận trong ngắn hạn” khi quyết định đầu tư?

3. Vì sao có lý thuyết giải thích tình trạng giá cổ phiếu giảm khi phát hành cổ phiếu mới, mà lại không có lý thuyết giải thích tình trạng cổ phiếu tăng?

Các lý thuyết được xây dựng nhằm giải thích các hiện tượng số lớn, xảy ra thường xuyên và có tính quy luật. Như đã nói ở trên, hiện tượng cổ phiếu giảm khi phát hành cổ phiếu mới là hiện tượng phổ biến, vì thế không có gì lạ khi người ta tìm cách xây dựng các lý thuyết lý giải hiện tượng này. Các hiện tượng không phổ biến thường được mặc định là các hiện tượng ngẫu nhiên, không có quy luật. Mà đã không tuân theo quy luật thì làm sao có thể lý giải được bằng một lý thuyết nào đó.

Tuy nhiên, ý kiến của em về việc tại sao không có lý thuyết lý giải hiện tượng cổ phiếu tăng khi phát hành thêm cổ phiểu mới cũng rất thú vị. Nếu em chuẩn bị làm luận văn thì đây có thể là một đề tài hay đấy. Em mà tìm được một quy luật nào đó để giải thích hiện tượng này thì có cơ hội nổi tiếng thế giới đấy (ví dụ mà em nêu ra là một trường hợp trong đó giá cổ phiếu tăng khi phát hành thêm cổ phiếu mới. Trong trường hợp này quyết định huy động thêm vốn được thị trường coi là tin tốt – good news).

Hope it helps

 
   
     
  tieulinh (25/10/2007 12:58 PM) Có ích: 0/0    
 

Chào anh! Em có một thắc mắc muốn nhờ anh giải đáp dùm (vì mới bắt đầu học chuyên ngành,giờ học trên lớp lại quá ít nên kiến thức của em so với những người nhiều kinh nghiệm như anh cũng chỉ như muối bỏ bể. Nếu câu hỏi có ngây ngô mong anh đừng cười).

Em được biết theo lý thuyết khi một công ty phát hành thêm cổ phiếu để phục vụ cho dự án đầu tư sắp tới thì giá cổ phiếu của cty trên thị trường sẽ giảm (thầy giáo em cũng nói: cứ thấy cty phát hành thêm cổ phiếu là giá cổ phiếu của công ty đó giảm), do nhà đầu tư thấy rằng lợi nhuận trong ngắn hạn chưa thể tăng nhiều trong khi phải chia cho nhiều cổ phần hơn nên cổ tức sẽ giảm =>giá cổ phiếu giảm.

Nhưng nếu em là nhà đầu tư, em thấy dự án của cty khả thi, sẽ thu lời trong tương lai, và nhiều nhà đầu tư cũng nghĩ như em, mọi người cùng tìm mua cổ phiếu của cty này, nếu vậy thì giá cổ phiếu phải tăng. Nếu mà khi một công ty phát hành thêm cổ phiêu, các nhà đầu tư đều nghĩ cổ phiếu của cty đó được đánh giá cao hơn giá trị thực, vì thế mà cổ phiếu của cty đó giảm giá thì có quá lý thuyết, quá cứng nhắc không anh? Giữa hai lối suy nghĩ hoàn toàn đối lập đó mong anh cho một lời giải (em thấy cả hai cách đều đúng mà sao chỉ chọn cách lý giải thứ nhất để xây dựng lý thuyết)

Thật sự rất cảm ơn anh.

 
   
     
 
Thảo luận (0) Thành viên ưa thích (25)
Trang trước   -  1/0  -   Trang sau
 
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
Doanh nghiệp và Hành trình đi tìm Cấu trúc vốn tối ưu
Viết tiếp Cấu trúc vốn và những tác động của nó
Cấu trúc vốn tối ưu của một doanh nghiệp-Phần II
Cấu trúc vốn tối ưu của một doanh nghiệp-Phần I
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Tóm lược một số lý thuyết về cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Sử dụng phần góp của vốn với liên doanh
Tóm lược một số lý thuyết về cấu trúc vốn
 
 
 
 

Đăng ký:123581 (Vàng: 15 - Bạc:11)

Thảo luận:36188

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:1811

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1296

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tâng 6, 25 Vũ Ngọc Phan, Đống Đa – ĐT: (04) 39446509
Đà Nẵng: Tầng 6, 76 Bạch Đằng – ĐT: (0511) 2466926
TP HCM: VietGlobe Office Building. Số 1 Đặng Dung, Quận I – ĐT: (08) 54041388
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.