Tìm kiếm  
 
Thị trường Tài chính quốc tế Công cụ Kĩ thuật tài chính Qui hoạch Cấu trúc vốn Kế toán-Kiểm toán Tổ chức tài chính
Tổng quan thị trường tài chính | Thị trường sơ cấp | Thị trường thứ cấp | Ngân hàng | Tổ chức tài chính phi ngân hàng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Tài chính » Thị trường » Tổng quan thị trường tài chính

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu hóa
Cấu trúc thị trường tài chính
Ảnh hưởng của thị trường chứng khoán Mỹ và thế giới đến Việt Nam
Một số thông tin thú vị về chỉ số EPS
Giải pháp phát triển trái phiếu Việt Nam
Khái niệm Công ty đầu tư - Quỹ đầu tư
Cấu trúc của thị trường tài chính
Đằng sau giá cổ phiếu cao
Khó khăn khi phân tích một doanh nghiệp Việt Nam
Từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, ngẫm lại những tiên đoán trong trước tác của Mác
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Đằng sau giá cổ phiếu cao  
  3 kịch bản cho thị trường chứng khoán Việt Nam  
  Giải pháp phát triển trái phiếu Việt Nam  
  Vàng, Dầu và Thị trường tài chính  
  Một số thông tin thú vị về chỉ số EPS  
  Thuyết 'Thiên nga đen' và thị trường chứng khoán  
  Vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu hóa  
  Từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, ngẫm lại những tiên đoán trong trước tác của Mác  
  Những cạm bẫy chết người trên sàn vàng  
  Là người giỏi nhất, trước khi trở thành người lớn nhất?  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: gaubo  --   30/07/2007 09:06 AM    

Một số thông tin thú vị về chỉ số EPS

( Bình chọn: 9   --  Thảo luận: 9 --  Số lần đọc: 18465)

Từ ngày có cái thị trường chứng khoán, đọc báo chí, nghe tin tức thấy người ta nói đến EPS nhiều quá nên cũng tò mò muốn biết nó là cái gì. Tìm đến hỏi một số chuyên gia có thâm niên “đánh Đông dẹp Bắc” trên thị trường chứng khoán thì được biết nó là viết tắt của Earnings Per Share, dịch ra tiếng Việt là lợi nhuận trên một cổ phần. Tò mò hỏi tiếp thế vì sao mà EPS lại quan trọng thế? Lần này thì câu trả lời phức tạp hơn, hóa ra xung quanh anh chàng EPS này cũng có khá nhiều điều lý thú. Xin được chia sẻ cùng quý vị một số điều lý thú đó.

Vì sao EPS lại được ưa thích như vậy?

Những ai từng một lần sử dụng báo cáo tài chính đều biết một báo cáo tài chính thông thường cũng dài mấy chục trang, các công ty lớn thì hàng trăm trang là chuyện bình thường. Trong một báo cáo tài chính có rất nhiều thông tin, nhưng có một dòng nằm khiêm tốn tận cuối của Báo cáo kết quả kinh doanh (Income Statement) lại luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt. Đó chính là dòng “Lợi nhuận trên một cổ phần” (tiếng Anh là earnings per share – EPS). EPS xuất hiện trong hầu hết các phân tích tài chính và quen thuộc đến nỗi từ cụ già tới em nhỏ, hễ cứ quan tâm đến thị trường chứng khoán là biết EPS có nghĩa là gì, mặc dù chưa từng một ngày học tiếng Anh. Nhưng vì sao giữa một rừng các con số trong báo cáo tài chính, EPS lại được quan tâm đến vậy? Câu hỏi này được Graham, Harvey, Rajgopal (2005)đặt ra cho các vị giám đốc tài chính (CFOs) của 401 công ty tại Mỹ, và đây là câu trả lời: Thứ nhất, các nhà đầu tư hằng ngày nhận được rất nhiều thông tin (từ báo cáo tài chính cũng như từ các nguồn khác) trong khi khả năng xử lý thì có hạn. Vì vậy, các nhà đầu tư cần một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách đơn giản, dễ hiểu, và dễ so sánh. EPS được coi là đáp ứng tốt các yêu cầu này. Lý do thứ hai rất đơn giản, EPS là chỉ tiêu được sử dụng một cách phổ biến nhất và xuất hiện với tần suất nhiều nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng, đến mức người ta mặc nhiên coi nó là quan trọng mà chẳng cần hỏi lý do. Cuối cùng, giống như các nhà đầu tư, các chuyên gia phân tích tài chính (financial analysts) và các ngân hàng đầu tư (investment banks) cũng muốn có một chỉ tiêu tổng hợp để thuận tiện cho việc phân tích, đánh giá, dự báo tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, và họ cũng chọn EPS.

EPS và các giá trị tham chiếu (benchmarks)

Khi đã có trong tay số liệu EPS, có lẽ việc đầu tiên mà các nhà phân tích thường làm là so sánh với các giá trị tham chiếu (benchmarks). Ba điểm tham chiếu thường nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà phân tích là điểm 0 (tức là mức EPS bằng 0); EPS của năm trước (hoặc của cùng quý năm trước); EPS theo dự báo của các chuyên gia phân tích tài chính (analyst forecast) hoặc theo mức EPS kế hoạch của chính doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu cho thấy thị trường phản ứng khá mạnh mẽ mỗi khi mức EPS của doanh nghiệp cao hơn hay thấp hơn các điểm tham chiếu này. Ví dụ, nghiên cứu của Bartov, Givoly, Hayn (2002 ) đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ giai đoạn 1983-1997 cho thấy mức chênh lệch lợi tức cổ phiếu (return) bình quân quý giữa một công ty có EPS bằng hoặc cao hơn dự báo của các chuyên gia phân tích (analyst forecast) dù chỉ 1 cent và một công ty tương tự nhưng có EPS thấp hơn analyst forecast chỉ 1 cent là 3.2% (đây là mức chênh lệch sau khi đã loại trừ ảnh hưởng của các yếu tố khác có thể có ảnh hưởng tới lợi tức cổ phiếu của các công ty như sai số dự báo, rủi ro).

Do việc EPS cao hơn hay thấp hơn các giá trị tham chiếu có ảnh hưởng lớn tới giá cổ phiếu nên môt điều dễ hiểu là các công ty thường cố gắng tránh rơi vào tình trạng phải báo cáo EPS thấp hơn các điểm tham chiếu này. Vì vậy, trong trường hợp EPS thực tế thấp hơn một chút xíu so với các giá trị tham chiếu thì các công ty thường tìm cách “phù phép” báo cáo tài chính để có được mức EPS cao hơn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy hiện tượng phù phép này khá phổ biến. Ví dụ, Degeorge, Patel, Zeckhauser (1999) phân tích các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ giai đoạn 1974-1996 và phát hiện rằng có rất nhiều (đến mức “bất thường”) các công ty báo cáo mức EPS cao hơn 0, hoặc cao hơn EPS năm trước, hoặc cao hơn mức dự báo của chuyên gia phân tích tài chính một chút xíu (1-2 cent), trong khi đó có rất ít công ty báo cáo EPS thấp hơn các giá trị tham chiếu này 1-2 cent.

Vì sao thị trường lại phản ứng mạnh mẽ với các giá trị tham chiếu?

Degeorge, Patel, Zeckhauser (1999) đưa ra một giả thuyết dựa trên Prospect Theory rằng con người nói chung có xu hướng đánh giá các kết quả của một quá trình (outcomes) bằng cách so sánh với các điểm tham chiếu (reference points). Khi một công ty công bố mức EPS cho năm hiện tại, thông thường mức lợi nhuận năm trước và mức lợi nhuận theo dự báo của các chuyên gia phân tích tài chính cũng được công bố kèm theo. Việc thường xuyên xuất hiện đồng thời như vậy một cách tự nhiên khiến cho hai chỉ tiêu EPS năm trước và EPS dự báo của các chuyên gia phân tích tài chính trở thành các điểm tham chiếu quan trọng (benchmarks). Riêng đối với điểm tham chiếu 0 thì đặc biệt hơn. Tâm lý sợ thua lỗ (loss aversion) khiến cho các nhà đầu tư có xu hướng phản ứng mạnh mẽ hơn khi EPS cao hơn hay thấp hơn điểm tham chiếu này. Cho dù mức chênh lệch chỉ là 2 cents nhưng nghe từ “lãi” vẫn thấy thân thương hơn từ “lỗ”.

Nguyên lý chung là như vậy, nhưng trên thực tế phản ứng của thị trường khi EPS của doanh nghiệp cao hơn hay thấp hơn các mốc tham chiếu này còn mạnh mẽ hơn do tác động của yếu tố tâm lý. Ví dụ, khi một công ty công bố EPS cao hơn các mức tham chiếu, giá cổ phiếu của công ty đó thường tăng mạnh do:

Thứ nhất, một số nhà quản lý quỹ (fund managers) có thiên hướng ưa thích các công ty có lợi nhuận tăng trưởng. Các fund managers này sẽ tăng cường mua cổ phiếu của các công ty có EPS cao hơn so với năm trước hoặc so với dự báo của các chuyên gia phân tích tài chính, và khi cầu đủ lớn thì giá tất sẽ tăng.

Thứ hai, các chuyên viên phân tích và nhà đầu tư trẻ, thiếu kinh nghiệm thường có xu hướng phản ứng thái quá (over-reaction) khi các công ty báo cáo mức EPS cao tương đối so với các điểm tham chiếu.

Ngươc lại, khi một công ty công bố EPS thấp hơn các mức tham chiếu thì giá cổ phiếu của công ty đó thường giảm mạnh do:

Thứ nhất, các nhà đầu tư có xu hướng mặc định rằng mọi công ty đều tìm cách phù phép lợi nhuận để có EPS cao hơn các mốc tham chiếu. Vì vậy, khi một công ty báo cáo EPS thấp hơn các mốc tham chiếu này thì đó là dấu hiệu có điều gì đó bất ổn đối với công ty (đến mức không thể phù phép cho EPS cao hơn). Kết quả là giá cổ phiếu của công ty đó nhiều khả năng sẽ bị điều chỉnh giảm.

Thứ hai, các chuyên viên phân tích và nhà đầu tư trẻ, thiếu kinh nghiệm thường có xu hướng phản ứng thái quá (over-reaction) khi các công ty báo cáo mức EPS thấp hơn so với các điểm tham chiếu.

Thứ ba,thù lao của các fund managers thường được xác định trên cơ sở so sánh với kết quả hoạt động của các fund managers khác trong cùng kỳ (relative performance evaluation). Vì vậy, khi một fund manager phản ứng thái quá đối với EPS thấp hơn mốc tham chiếu bằng cách bán ra sẽ kéo theo nhiều fund managers khác bán ra theo, khiến cho giá cổ phiếu càng giảm. Thứ tư, một số hedge funds sử dụng các chương trình bán ra tự động (automatic sell programs). Các chương trình này có thể được thiết kế để tự động đặt lệnh bán khi EPS thấp hơn một số điểm tham chiếu, tạo ra hiện tượng bán ồ ạt dẫn tới giá cổ phiểu bị giảm (Xem Raigopal, Shivakumar, Simpson [2007] ).

Tóm lại, dường như lý do quan trọng nhất khiến EPS được ưa thích là do tính “dễ sử dụng” và “được thừa nhận rộng rãi” của chỉ tiêu này hơn là bản chất kinh tế (economic fundamentals) của nó. Mặc dù các chuyên gia phân tích tài chính luôn khẳng định rằng EPS là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng những băn khoăn không phải là không có lý. Liệu một con số có thể tổng hợp được tình hình hoạt động của cả một doanh nghiệp với muôn vàn các sự kiện trong suốt một năm không? Câu trả lời chưa có, nhưng lâu nay cả thế giới người ta dùng EPS mà có làm sao đâu nhỉ. Thôi thì lại theo phương châm: cái gì tồn tại thì có lý.

 


Trần Đức Nam

(VACO)

Tài liệu tham khảo

Bartov, E., D. Givoly, and C. Hayn, 2002, The rewards to meeting or beating earnings Expectations, Journal of Accounting and Economics 33: 173–204

Degeorge, F., J. Patel and R. Zeckhauser, 1999, Earnings management to exceed thresholds, Journal of Business 72: 1-33

Graham, J.R, C.R. Harvey, and S. Rajgopal, 2005, The economic implications of corporate financial reporting, Journal of Accounting and Economics 40: 3-73

Raigopal, S., L. Shivakumar, and A. Simpson, 2007 , A Catering Theory of Earnings Management, Working Paper (University of Washington)

© Saga.vn

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 38/ 9 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 7)
  M2g1cz (03/12/2009 05:08 PM) Có ích: 1/1    
 
© SAGA - Đó chỉ là để tham khảo -  Thực ra với những công ty lớn việc kiểm tra EPS rất đơn giản vì nó có đủ thông tin tài chính nhưng mình nghĩ với 1 nhà đầu tư dài hạn cái họ quan tâm đến nữa là chỉ số tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty.
 
   
     
  vyvyfy (01/08/2007 03:44 PM) Có ích: 3/3    
 

PRICE/EARNINGS RATIO (P/E): Tỷ lệ giá/lợi nhuận. Giá chứng khoán chia cho lợi nhuận mỗi cổ phần. Tỷ lệ P/E có thể hoặc là sử dụng lợi nhuận được báo cáo trong năm sau cùng (gọi là tỷ lệ P/E theo dõi : trailing P/E tỷ lệ P/E đã qua) hoặc là dùng dự đoán của nhà phân tích và lợi nhuận năm tới (gọi là tỷ lệ P/E sắp tới : forward P/E).
 
Tỷ lệ P/E đã qua được liệt kê cùng với giá chứng khoán và hoạt động mua bán trong báo hằng ngày. Thí dụ, chứng khoán đang bán giá $20/cổ phần có lợi nhuận $1 trong năm qua thì có tỷ lệ P/E đã qua là 20. Nếu cùng chứng khoán đó dự trù có lợi nhuận $2 năm tới, nó sẽ có tỷ lệ giá/1ợi nhuận ( P/E ) sắp tới là 10.
 
Tỷ lệ P/E cũng còn gọi là bội số, nó cho nhà đầu tư ý niệm là họ đang chi trả bao nhiêu cho sức kiếm lợi nhuận của công ty. Tỷ lệ P/E càng cao thì nhà đầu tư càng chi trả nhiều và vì thế họ mong rằng càng cần có nhiều lợi nhuận Chứng khoán có tỷ lệ P/E cao với bội số cao hơn 20 là loại chứng khoán của công ty trẻ đang phát triển nhanh. Chứng khoán này có nhiều rủi ro hơn chứng khoán có tỷ lệ P/E thấp bởi vì kỳ vọng phát triển cao dễ bị biến động hơn phát triển thấp. Chứng khoán tỷ lệ P/E thấp thường ở trong các ngành phát triển thấp, đã chín chắn (trưởng thành) hay ở trong nhóm chứng khoán không còn được chiếu cố tức là ở các công ty chất lượng cao, tổ chức tốt và thuộc loại lão làng có lợi nhuận ổn định và thường xuyên trả cổ tức. Thông thường chứng khoán có tỷ lệ P/E thấp có hoa lợi cao hơn chứng khoán có tỷ lệ P/E cao và chứng khoán này thường không trả cổ tức (dùng cổ tức để phát triển thêm).
(nguồn www.bsc.com.vn)

 
   
     
  langthang_net (01/08/2007 12:39 PM) Có ích: 0/0    
 

Ngoài chỉ tiêu EPS thì thường nghe người ta nói đến cái PE. Ai bít chỉ dùm nha, thanks! thanks!

 
   
     
  songtu1988 (01/08/2007 10:13 AM) Có ích: 2/3    
 

Thật buồn cười??? Nếu đầu tư chỉ dựa vào EPS. Tất cả những ai lên sàn đều biết đúng chỉ tiêu EPS để đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, từ cô hàng rau đến bà hàng quả mới chân ướt chân ráo lên sàn. Nếu như chỉ như vậy là kiếm được tiền trên TTCK thì hóa ra trò chơi CK lại đơn giản như vậy sao??? heh. Vậy thì tôi khỏi cần đi học, ở nhà, đọc EPS và kiếm tiền thôi...

 
   
     
  zVuong (01/08/2007 09:12 AM) Có ích: 1/2    
 
Bạn tóm đúng chỗ đấy... nhột, nhột quá... Thanks. Bài thật thú vị, đáng ngẫm.
 
   
     
  vinhbinh2008 (31/07/2007 01:52 PM) Có ích: 2/2    
 

EPS là một chỉ tiêu đầu tiên để xem xét đầu tư CP, tuy nhiên làm sao kiểm tra được chỉ số này có điều chỉnh hay số thực.

Vĩnh Bình là ko phải dân "Kinh tế",  nên nhờ các Quí Vị tư vấn dzùm

 

 
   
     
  ukbox (31/07/2007 11:17 AM) Có ích: 3/3    
 
Là một người ăn theo thị trường nên tôi hoàn toàn đồng ý với phần "tóm lại" của bạn (Tóm lại, dường như lý do quan trọng nhất khiến EPS được ưa thích là do tính “dễ sử dụng” và “được thừa nhận rộng rãi” của chỉ tiêu này ).
 
   
     
 
Thảo luận (2) Thành viên ưa thích (19)
Trang trước   -  1/1  -   Trang sau
 
  nguyenvany1248 (02/02/2008 08:15 PM)  
 
Songtu88! Cái gai còn có ích nữa là. Sử dụng đúng chỗ, đúng lúc, đúng nơi và đừng đạp phải nó!
 
   
     
  zTranTriDung (30/07/2007 11:25 PM)  
 
Cám ơn bạn Nam, chính xác một bài tổng quan thú vị! Vâng, "cái gì tồn tại thì có lý."
 
   
     
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Một số lợi ích đối với các công ty nước ngoài khi niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ
Điệu nhảy của Thị Giá
Truyền thông thời chứng khoán
Chiến thuật chia nhỏ cổ phiếu của công ty tăng trưởng mạnh
Bàn về VN-Index
Mức độ ảnh hưởng của thị trường chứng khoán Trung Quốc?
Giao Dịch Tay Trong: Hợp Pháp và Bất Hợp Pháp
 
 
 
 

Đăng ký:216481 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4963

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.