Trong khi khái niệm “
thương hiệu quốc gia”
(THQG) dần trở thành một đề tài nóng trong những năm gần đây thì bản
thân khái niệm này đang được hiểu rất khác nhau. Bài viết này góp phần
làm rõ các khái niệm THQG cũng như những vai trò và sứ mệnh của từng
nhóm THQG cụ thể.
Từ những khái
niệm trên, các nhà hoạch định chiến lược sẽ có những định hướng phát
triển cụ thể cho từng “nhóm thương hiệu”. Và điều chắc chắn là THQG
không chỉ bó hẹp trong các lĩnh vực kinh tế hay kinh doanh, mà nó còn
bao gồm nhiều lĩnh vực khác rất lý thú.
Theo chúng tôi, một “tập hợp THQG” đầy đủ sẽ bao gồm các nhóm thương hiệu sau:
- Nhóm các thương hiệu địa danh và quốc gia
- Nhóm các thương hiệu chứng nhận
- Nhóm các
thương hiệu hình tượng (văn hóa, lịch sử, danh nhân) tiêu biểu quốc gia
- Nhóm các thương hiệu sản phẩm và ngành nghề tiêu biểu quốc gia
- Nhóm các thương hiệu hiệp hội và tập thể
Các
khái niệm THQG nói trên hình thành đơn lẻ và chưa được hệ thống hóa. Vì
vậy, việc xây dựng hoàn chỉnh các khái niệm cấu thành THQG là việc làm
rất thiết thực giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ. Thực tế ở châu Á
chúng ta là nước đang có nhận thức về thương hiệu ở cấp độ khá cao. Đây
cũng là một lợi thế ngày càng rõ ràng và cần được làm rõ trong tập hợp
các khái niệm về kinh tế tri thức hay kinh tế hậu tư bản.
Nhóm thương hiệu chứng nhậnTrong
khi chiến lược THQG được cho là chưa có định vị rõ ràng, thì trong thực
tế đang hình thành hàng loạt các chương trình THQG dưới dạng thức
“thương hiệu chứng nhận” (certificating brand). Trong số đó, không thể
không nhắc đến chương trình “Hàng Việt Nam Chất lượng cao” xuất hiện
ngay từ những năm đầu thời kỳ đổi mới. Có thể nói, đây là phong trào
xây dựng thương hiệu đầu tiên của cộng đồng
doanh nghiệp Việt Nam.
Hiện
nay, đã có rất nhiều giải thưởng tương tự xuất hiện. Chính vì vậy,
dưới góc độ chuyên môn cần phải làm rõ hai khái niệm “thương hiệu giải
thưởng” và THQG; trong đó một số thương hiệu giải thưởng có thể trở
thành THQG và các thương hiệu giải thưởng khác chỉ là do các pháp nhân
khác nhau xác lập. Việc xác định một thương hiệu mang tính quốc gia là
việc làm rất cần thiết trong một chiến lược THQG tổng thể rất cần sự
tham gia phân tích của giới chuyên môn. Ngày càng xuất hiện nhiều
“thương hiệu giải thưởng” khác nhau, từ các hệ thống danh hiệu của Nhà
nước như “Anh hùng Lao động” hay danh hiệu khen thưởng vốn đã hình
thành từ rất lâu. Chúng ta còn thấy sự hình thành rất nhiều “thương
hiệu giải thưởng” do các cơ quan báo chí, hiệp hội và doanh nghiệp đứng
ra thành lập và tổ chức, ví dụ như Sao Vàng Đất Việt, Quả Chuông Vàng,
Mai Vàng… cho đến danh hiệu hoa hậu, ca nhạc, tài năng…
Có một
điều cần lưu ý là không phải bất kỳ một “thương hiệu giải thưởng” do
một cơ quan cấp Trung ương xây dựng nên đều có uy tín. Và ngược lại,
một thương hiệu giải thưởng hình thành từ địa phương nhưng nếu được tổ
chức tốt vẫn có thể trở thành một thương hiệu giải thưởng có uy tín.
Trong thực tế, chúng ta thấy thương hiệu Kỷ lục Thế giới Guinness không
phải do một cơ quan cấp quốc gia xây dựng mà nó vốn xuất thân từ một
thương hiệu sản phẩm là “Bia Guinness” mà thôi.
Thương hiệu
- theo luận điểm cơ bản của tư duy thương hiệu - là một trong những
công cụ hiếm hoi vượt ra khỏi biên giới quốc gia và những rào cản kinh
tế. Thương hiệu thực sự là công cụ đắc lực nhất trong tiến trình toàn
cầu hóa mà người Việt Nam cần phải nắm bắt và vận dụng một cách khôn
ngoan để mang lại lợi ích cho quốc gia, cho doanh nghiệp và cho từng cá
nhân. Trong đó, mô thức “thương hiệu giải thưởng” hay “thương hiệu
chứng nhận” là công cụ điển hình.
Như vậy, trong cơ cấu thương
hiệu chứng nhận cấp quốc gia, chúng ta kỳ vọng rằng các chương trình
thương hiệu do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (Famous
Brand of Vietnam) và Cục Xúc tiến Thương mại (Vietnam Values) xây dựng
cần phải trở thành những hệ thống thương hiệu chứng nhận tiêu biểu.
Đồng thời, bản thân các thương hiệu này phải xác lập thực sự về cấp độ
nổi tiếng và có uy tín, không chỉ trong nước mà còn khắp nơi trên thế
giới trong một tương lai nhất định. Không những thế, trạng thái pháp lý
của những thương hiệu này cũng phải vững chắc trên các hệ thống pháp lý
thương hiệu toàn cầu.
Nhóm thương hiệu địa danh và chỉ dẫn địa lýThương
hiệu địa danh (THĐD) rất dễ hình dung. Chúng ta có rất nhiều tên địa
danh đẹp và nổi tiếng quốc tế như SaPa, Hà Nội, Hạ Long, Huế, Hội An,
Đà Lạt, Sài Gòn… Những thương hiệu này cần phải được khẳng định là tài
sản thương hiệu quốc gia. Đồng thời, cũng cần hình thành những quan
điểm rõ ràng, cơ bản về khái niệm “tài nguyên thương hiệu” đối với các
THĐD nói trên. Trong quá trình phát triển của đất nước, các tài nguyên
này không phải cạn kiệt dần như các nguồn tài nguyên vật chất, mà ngược
lại, các tài nguyên thương hiệu này không ngừng được nâng cao về giá
trị. Quản trị chiến lược THĐD hoàn toàn không khác biệt so với các mô
hình quản trị thương hiệu thông thường. Khác biệt chủ yếu đối với THĐD
là những yếu tố như tính chất đa ngành; sự dụng hòa giữa địa phương và
quốc tế; chiến lược khai thác giá trị thương hiệu và gắn nhãn; vai trò
và khả năng chuyên môn của cơ quan địa phương hay quốc gia nơi sở hữu
trực tiếp và hợp pháp các thương hiệu nói trên.
Ngoài ra, khái
niệm THĐD còn gắn liền với yếu tố “chủ quyền”. Chúng ta sẽ làm gì nếu
một doanh nghiệp ở một quốc gia khác sử dụng các thương hiệu nổi tiếng
như SaPa, Đà Lạt cho sản phẩm của họ? Việc sử dụng đó có làm tổn hại
đến hình ảnh và uy tín thương hiệu nói trên hay không? Trong trường hợp
khuyến khích sử dụng thì cơ chế khai thác thương hiệu sẽ như thế nào?
Champagne
là một THĐD của Pháp nhưng lại trùng với địa danh của Thụy Sĩ. Trong
nhóm sản phẩm “rượu vang sủi tăm” thì champagne là thương hiệu quá nổi
tiếng đến mức bị đánh đồng với tên sản phẩm. Người Pháp thật sự hạnh
phúc khi được chính thức sở hữu thương hiệu này theo một quyết định
chính thức của Nghị viện châu âu nhưng quyết định này lại là một sự
thất vọng lớn đối với người Thụy Sĩ.
Về nguyên tắc một chiến lược THĐD hoàn chỉnh cần bao gồm:1. Chiến lược khai thác gắn
nhãn
có chọn lọc: trong đó xác định các nhóm sản phẩm được phép mua thương
quyền, cơ cấu định giá thương quyền cho từng ngành (kể cả các cơ chế
miễn tính phí đối với những lĩnh vực mang tính xã hội), mức độ ưu đãi
địa phương hay quốc gia và quốc tế. Đi kèm theo đó là một hệ thống nhận
diện thương hiệu chuyên nghiệp.
2. Chiến lược xây dựng và quảng
bá hình ảnh thương hiệu kèm theo cơ cấu ngân sách hợp lý đối với ngân
sách đầu tư và ngân sách đóng góp. Xa hơn nữa là một bảng phân tích tài
chính thương hiệu (Brand Finance) đối với bản thân thương hiệu.
3.
Chiến lược bảo vệ giá trị cốt lõi áp dụng đối với những yếu tố giá trị
cốt lõi cả về vật thể và phi vật thể làm nên THĐD trong đó bao gồm cả
việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, không gian văn hóa và tài nguyên
thiên nhiên…
4. Các chương trình nghiên cứu định kỳ dưới góc độ
marketing để đánh giá thương hiệu (brand audit) ở “thị trường” và “khách hàng” trong nước và quốc tế.
Nhóm thương hiệu sản phẩm và ngànhỞ
Thế Miếu của Kinh thành Huế, chúng ta còn thấy một bộ Cửu Đỉnh trên đó
khắc ghi những sản vật, danh lam thắng cảnh quốc gia. Đó là việc làm
rất đáng trân trọng của các bậc tiền nhân trong sự tôn vinh “sản phẩm
quốc gia”. Trong chiến lược sản phẩm quốc gia và bộ ngành vào thời điểm
hiện nay, các bộ ngành đã có những động thái tích cực trong việc xác
lập thương hiệu sản phẩm tiêu biểu của địa phương. Đây chính là nhóm
“thương hiệu sản phẩm quốc gia”.
Ông Michael Porter vừa rồi
cũng có một số nhận xét đáng chú ý về một số sản phẩm quốc gia. Dưới
góc độ chế biến có thể đó là “sản phẩm thiết kế” chứ không phải là “gia
công sản xuất thô”. Nếu xét vị thế, Việt Nam có một số nét tương đồng
với nước Ý của châu Âu về mặt này. Dưới góc độ bản sắc, chúng ta rất có
lợi thế về đa văn hóa do quá trình lịch sử gắn bó với những nền văn hóa
lớn. Đó là những định hướng sản phẩm cần được nhìn nhận nghiêm túc và
cụ thể hóa bằng một chiến lược hành động.
Chẳng hạn đối với khái
niệm “sản phẩm thiết kế”, chúng ta phải xem xét việc đầu tư những trung
tâm đào tạo thiết kế, mỹ thuật ứng dụng, mỹ thuật công nghiệp đạt trình
độ hàng đầu thế giới mà trong đó Hà Nội và Huế là những nơi rất có thế
mạnh về năng lực mỹ thuật cơ bản.
Đối với sản phẩm giao
thương, chúng ta cần thiết lập mạng lưới hậu cần thông suốt trên bộ,
trên không và trên biển để khai thác sản phẩm/dịch vụ vận chuyển, lưu
thông hàng hóa vật chất. Đồng thời phân tích cạnh tranh với các đối thủ
trực tiếp như Singapore hay Thái Lan để tìm ra những “lợi thế độc đáo”
như quan điểm cạnh tranh mà Michael Porter đã đề cập.
Bên cạnh đó, những sản phẩm mà
khả năng cạnh tranh
đã được khẳng định như cà phê, gạo, cao su, hải sản chế biến, đồ gỗ,
may mặc thời trang… cần xác lập chiến lược ở cấp độ cao hơn tức là cấp
độ “sản phẩm thương hiệu” chứ không như cấp độ “sản phẩm hàng hóa” như
mặt bằng chung hiện nay.
Bằng những nỗ lực cụ thể, nhiều chương
trình hội thảo về thương hiệu sản phẩm cao cấp với sự tham gia thuyết
trình của các chuyên gia sáng tạo thương hiệu đến từ các nước phát
triển đang dự định tổ chức. Những hội thảo này có mục tiêu gửi đến các
doanh nghiệp một thông điệp đó là cần thiết phải nâng cấp thương hiệu
sản phẩm Việt Nam lên cấp độ cao hơn, đạt mức độ chuyên nghiệp của
những thương hiệu hàng đầu quốc tế.
Doanh nghiệp chủ lực bao gồm
các tập đoàn kinh tế tiêu biểu cũng nằm trong nhóm thương hiệu này. Các
tập đoàn kinh tế và thương hiệu chủ lực của mỗi ngành đóng vai trò hết
sức quan trọng trong chiến lược thương hiệu quốc gia. Họ sẽ tham gia
phối hợp gắn nhãn và quảng bá, đồng thời đóng góp một phần kinh phí cho
chiến lược quảng bá chung tại thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Nhóm các thương hiệu hình tượngThương
hiệu hình tượng (THHT) liên quan rất nhiều đến chiến lược thương hiệu
quốc gia hay “hình ảnh quốc gia”. Trong lĩnh vực này chúng ta không thể
không nhắc đến các “thương hiệu biểu trưng” được nhiều người dân Việt
Nam và bạn bè quốc tế nhìn nhận, đó là hoa sen và trống đồng.
Hình
ảnh hoa sen đang được một trong những thương hiệu cấp độ quốc gia khai
thác sử dụng đó là Vietnam Airlines. Hình ảnh trống đồng hiện thân của
văn minh Lạc Việt hiện đang được giới nghiên cứu lịch sử quan tâm kể cả
dưới góc độ nguồn gốc văn hóa và triết học phong thủy. Đây cũng là một
đề tài nghiêm túc dưới góc độ nhóm THHT trong thương hiệu quốc gia.
Những hình tượng tiêu biểu có thể vừa là biểu trưng địa phương vừa là một trong những biểu trưng cấp độ quốc gia như
logo hình Khuê Văn Các của Thăng Long - Hà Nội.
Đối
với biểu trưng chính thức là quốc kỳ, mỗi nước có một quan điểm sử dụng
riêng. Người Mỹ thì có quan điểm cởi mở hơn vì công dân của họ được sử
dụng hình ảnh quốc kỳ để thiết kế quần áo trang phục, kể cả áo tắm
bikini. Thiết nghĩ, chúng ta không nên khuyến khích lạm dụng như thế,
nhưng có một nguyên tắc chung là việc sử dụng rộng rãi một thương hiệu,
kể cả hình tượng quốc kỳ sẽ góp phần làm tăng mức độ nổi tiếng của
thương hiệu đó. Đây là một việc làm nghiêm túc và nhất thiết phải có
một bộ khung mang tính pháp lý về khai thác sử dụng đúng các biểu tượng
chính thức của quốc gia.
THHT là một khái niệm rộng và là khái
niệm mở. Nghĩa là trong quá trình phát triển, đất nước chúng ta còn có
thể xác lập những THHT mang tính đương đại, chứ không chỉ có những THHT
của văn hóa truyền thống hay lịch sử. James Bond là một THHT rất gần
gũi và rất chuyên nghiệp, thương hiệu này bên cạnh vai trò cụ thể là
một siêu phẩm điện ảnh, nó đã được thừa nhận như một THHT về văn hóa
nước Anh bên cạnh những biểu trưng chính thống của Hoàng gia Anh.
“Nụ cười Việt Nam” cũng là một đề tài lý thú trong chiến lược xác lập nhóm thương hiệu hình ảnh của Việt Nam.
Các thương hiệu tập thể, vai trò của hiệp hộiMột
Số thương hiệu hiệp hội hình thành nhưng chưa đạt cấp độ nổi tiếng quốc
tế. Thương hiệu Chè Việt được xây dựng với biểu trưng “chiếc lá trà”
cùng với tên gọi chỉ gây liên tưởng đến sản phẩm cơ bản. Thương hiệu
này chưa phải là thương hiệu đến đích (destination brand, khái niệm của
Interbrand) mà sẽ nêu bật những lợi ích gần nhất mà khách hàng cảm nhận
được. Đây cũng chưa phải là một thương hiệu của phong cách (lifestyle
brand) thể hiện những lợi ích cảm tính hay sự thăng hoa mà thương hiệu
có thể mang lại. Kết quả là hiện nay “thương hiệu hiệp hội” chưa đủ sức
thuyết phục và hấp dẫn các doanh nghiệp thành viên gắn nhãn cho sản
phẩm của mình. Ngoài việc xây dựng thương hiệu chung, hiệp hội nên xây
dựng một số thương hiệu tập thể đạt mức độ chuyên nghiệp cao để các
doanh nghiệp thành viên có thể khai thác chung. Việc này sẽ là tạo ra
những giải pháp thương hiệu tích cực và thiết thực để hỗ trợ doanh
nghiệp thành viên. Từ đây, các doanh nghiệp có thể thoát khỏi tình
trạng xuất khẩu sản phẩm thô hay sản phẩm có hàm lượng giá trị thấp về
mặt lợi ích cảm tính.
Giải pháp thương hiệu tập thể là một trong những chiến lược phát triển bền vững đối với ngành thủ công sản xuất nhỏ.
Một
số thương hiệu quốc gia hiện nay rõ ràng là chưa đạt được đẳng cấp mà
lẽ ra nó phải được xác lập, cả về chuyên môn lẫn hình thức thương hiệu.
Trong đó dễ dàng nhận thấy nhất là hệ thống nhận diện thương hiệu, một
tiêu chí cơ bản mang tính bắt buộc đối với tất cả các thương hiệu đích
thực và chuyên nghiệp.
Vai trò của một hội đồng thương hiệu quốc gia Như
đã đề cập trong một bài viết khác về “Sứ mệnh thương hiệu quốc gia”,
cần thiết phải nêu một vấn đề quan trọng trong công tác ‘quản trị
thương hiệu’ đó là sự hình thành một ‘hội đồng thương hiệu’ cấp nhà
nước (national brand council). Hội đồng này sẽ tham vấn xác lập các
hình thức cụ thể của tập hợp “thương hiệu quốc gia”; định hướng chiến
lược cho các chương trình thương hiệu quốc gia cụ thể và cho các nhóm
thương hiệu cụ thể, đồng thời sẽ thẩm định tính hợp pháp và mức độ
chuyên nghiệp của các thương hiệu quốc gia do các cơ quan, hiệp hội
hoặc doanh nghiệp sở hữu; hội đồng có thể tiến hành giám sát chuyên môn
và tính minh bạch của các chương trình ‘thương hiệu quốc gia’ đích
thực; thiết lập các chương trình nghiên cứu có liên quan. Hội đồng này
không nhất thiết phải là một cơ quan hành chính, mà có thể chỉ là sự
tập hợp định kỳ của những người có uy tín cao nhất trong lĩnh vực
thương hiệu và những lĩnh vực liên quan. Các thành viên của hội đồng
này còn là những nhà cố vấn đắc lực cho các chương trình nói trên nhằm
nâng cao vai trò và năng lực của các chương trình thương hiệu quốc gia
đạt cấp độ quốc gia hay quốc tế theo sự xác lập ban đầu của nó.
Võ Văn Quang (Chuyên gia thương hiệu)