|
Người gửi:
--
11/01/2007 11:07 AM
House of Morgan - Kết thúc một "đỉnh cao" tài chính
(
Bình chọn:
--
:
--
Số lần đọc:
4019)
Không khó tưởng tượng hình ảnh J. Pierpont Morgan đang nhăn nhó ở thế giới bên kia khi xem xét việc bán ngân hàng của mình cho Chase Manhattan. Đó là vì ngân hàng uy nghi của ông buộc phải chấp nhận lời đề nghị từ một ngân hàng đáng tôn trọng nhưng có xuất xứ bình dân, cung cấp các dịch vụ cầm cố và cho vay mua xe hơi, cùng với các dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp. Điều này quả thực tổn hại nghiêm trọng đến uy tín và danh tiếng một người chủ ngân hàng theo trường phái cổ điển. Rốt cuộc, Ngân hàng của Morgan đã nhập khẩu vào Mỹ dịch vụ ngân hàng bán buôn theo phương pháp của Rothschilds ở châu Âu; tập trung hoàn toàn vào các khoản vay nợ của chính quyền bang, các công ty blue-chip và các cá nhân giàu có.
Giám đốc điều hành (CEO) của Morgan, Douglas "Sandy" Warner III cảm thấy rùng mình khi nghĩ lại những gì Pierpont đã có thể làm gì với quyết định bán đi ngân hàng của mình. Người điều hành của Morgan đã muốn kết thúc huyền thoại danh tiếng nhất trong ngành tài chính Mỹ? Nhìn nhận mọi việc một cách công bằng, Sandy Warner cho rằng ông đã bị đánh bại với tư thế của một nhà quý tộc không thành công chứ không như một kẻ đáng xấu hổ. Với sự tôn trọng và không hề coi thường quá khứ, điều đó cuối cùng đã chứng minh sự sụp đổ của ngân hàng.
Rơi xuống từ Thiên đường...
Để vẽ lại quá trình rơi xuống đến chóng mặt của Morgan, chúng ta cần nhìn lại thời điểm cuối thập kỷ 1980, khi ngân hàng "Hoàng gia" này dường như bất khả chiến bại. Trong lời giới thiệu mở đầu cuốn "The House of Morgan", xuất bản năm 1980, Ron Chernow đã trích dẫn đánh giá của các chuyên gia phân tích, những người ca tụng ngân hàng này như "ngân hàng có chất lượng dịch vụ số một cho dù bạn đánh giá điều này với bất kỳ phương pháp nào có thể nghĩ tới" và "ngân hàng với rất nhiều điều hoàn hảo". Morgan, vào thời điểm đó, tự hoà có mức vốn hoá thị trường lớn nhất trong các ngân hàng Mỹ và đắt giá hơn cả Citicorp. Ngược lại, trước các tin đồn về việc sát nhập, năm 2000, cổ phiếu của J.P. Morgan được các nhà đầu tư định giá ở mức bằng 1/10 của người khổng lồ Citigroup của Sandy Weill. Ngân hàng tự thấy đang bị kẹt tại điểm không thể chịu đựng được với bất kỳ một thành viên đáng kính trọng nào của Morgan: xếp hạng trung trong các doanh nghiệp tại phố Wall.
Ngân hàng Morgan không thất bại bởi tính tự mãn. Trong thập kỷ 1980, Lew Preston, vị chủ tịch bặt thiệp nhưng bảo thủ, đã nhận thấy các khách hàng doanh nghiệp truyền thống của Morgan đang dần từ bỏ việc vay tín dụng và tìm kiếm tài trợ trên thị trường vốn. Ông ta tiên đoán, với độ chính xác cực kỳ, một cuộc cách mạng trong hệ thống tài chính với cổ phiếu và trái phiếu, chứ không phải các khoản vay. Trong một bước đi táo bạo, gây chấn động mạnh mẽ văn hoá quí tộc tại Morgan, ông đã quyết định tái thiết lập ngân hàng thương mại thành một ngân hàng đầu tư. Ngân hàng thương mại duy nhất còn mơ hồ về điều này là Bankers Trust, trong khi đó Citicorp, Chase, Chemical và nhiều ngân hàng khác đều thu nhỏ hoạt động ngân hàng thương mại.
Chiến lược đầy tham vọng này đã vấp phải rào cản là Đạo luật Glass-Steagall ban hành năm 1934, trong đó chia House of Morgan thành ngân hàng thương mại của J.P. Morgan & Co. và ngân hàng đầu tư Morgan Stanley. Chúa đã phù hộ chiến lược của Preston, Ban điều hành của Cục dự trữ liên bang đã ra quyết định miễn trừ đặc biệt với J.P. Morgan cho phép tham gia bảo lãnh phát hành một thời gian dài trước khi Đạo luật Glass-Steagall bị bãi bỏ. Với sự khởi đầu này, J.P. Morgan dường như đã sẵn sàng để phát triển mô hình một ngân hàng toàn cầu có khả năng thống lĩnh nền tài chính nước Mỹ. Đáng tiếc là Morgan đã bỏ lỡ cơ hội dẫn đầu quí báu này dù tầm nhìn chiến lược hoàn toàn chính xác.
Trần Trí Dũng Tham khảo Wall Street Journal, 14/10/2000.
<
saga.vn
|