|
Người gửi:
--
08/11/2007 12:24 PM
Ở Việt Nam, Buffett cũng phải lướt sóng
(
Bình chọn:
--
:
--
Số lần đọc:
2501)
Đường dài hay lướt sóng
Thời gian gần đây, Việt Nam nở rộ việc đề cập nhiều đến việc so sánh nhà đầu tư dài hạn và người kinh doanh cổ phiếu ngắn hạn. Việc phân biệt rõ hai hình thức này đã khó, việc đánh giá xem nhóm nào quan trọng hơn còn khó gấp nhiều lần. Một câu trả lời chắc nịch là không thể, thường với từng doanh nghiệp mà ta có những cân nhắc riêng. Nếu doanh nghiệp có quá nhiều cổ phiếu giao dịch tự do, biến động lên xuống liên tục với biên độ cao trên thị trường, tính bất ổn của nó cũng sẽ cao tương ứng. Công chúng nhìn vào doanh nghiệp đó với sự nghi ngờ vào khả năng kiểm soát tình hình, đồng nghĩa với năng lực quản trị của doanh nghiệp được đặt lên bàn hỏi.
Ở đầu kia của câu chuyện, nếu nhà đầu tư nắm giữ khư khư tất cả cổ phiếu của doanh nghiệp, các giao dịch trên thị trường hiếm hoi hay thậm chí "tuyệt chủng", đây cũng không hẳn là dấu hiệu tốt. Hướng tư duy từ tín hiệu này sẽ là, hoặc (i) giá sẽ cao lắm, bỏ qua; hoặc (ii) không có ai giao dịch chắc là có vấn đề, nên cũng bỏ qua. Chức năng căn bản của thị trường chứng khoán là tạo tính thanh khoản, mất tính thanh khoản, cổ phiếu đứng mấp mé bờ vực diệt vong.
Như vậy cả nhà đầu tư ngắn hạn và nhà đầu tư dài hạn đều rất quan trọng. Nhà đầu tư ngắn hạn được trao danh hiệu đáng yêu là nghệ sĩ lướt sóng. Tuy nhiên cái gì cũng cần có gốc, dù nắm giữ dài hạn hay lướt sóng ngắn hạn cũng phải dựa trên căn bản cổ phiếu tốt. Vậy thế nào là một cổ phiếu tốt? Câu hỏi kinh điển với một người mới vào nghề cũng như một chuyên gia 20 năm nghề. Nếu liệt kê ra các chỉ số, tiêu chuẩn, thước đo thì có thể mất đến vài trang giấy. Có thể có một cách khác để phân loại cho bớt dài: theo nhóm dữ liệu cùng tính chất thời gian. Phân như thế, ở một thời điểm t hiện tại, ta có hai nhóm: dữ liệu quá khứ và dữ liệu tương lai.
Dữ liệu quá khứ là hoạt động kinh doanh, các điều chỉnh về cấu trúc, các bước chuyển mình chiến lược đã thực hiện, để ở thời điểm t ta có thể cân nhắc các dữ liệu này dưới dạng hiện tại hóa là những con số kết quả kinh doanh, số văn phòng chi nhánh, thị phần, và cả mức độ hiện diện thương hiệu. Dữ liệu tương lai cũng cần hiện tại hóa, nó được chiết khấu về hiện tại dưới dạng định hướng chiến lược và kế hoạch triển khai mà Ban Giám đốc hay HĐ Quản trị doanh nghiệp công bố trong trung và dài hạn.
Thế thì cả kết quả quả khứ lẫn định hướng tương lai đều rất quan trọng. Dữ liệu quá khứ tạo cảm giác yên tâm, là điều kiện cần nhưng chưa đủ, định hướng chiến lược kinh doanh cho phép tạo dựng niềm tin vào đồng vốn bỏ ra. Nói cách khác, ta đi mua tương lai doanh nghiệp. Nếu thế những tuyên bố sứ mệnh, tầm nhìn của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp là điểm mấu chốt. Định hướng chiến lược sẽ bao gồm luôn cả định vị doanh nghiệp trong tương lai.
Tương lai = tầm nhìn + sứ mệnh + chiến lược Vì sao cứ lặp đi lặp lại chiến lược doanh nghiệp là quan trọng, là mấu chốt? Là vì nó quan trọng thực. Sau khi đã xác lập được chiến lược và định hướng triển khai, ban lãnh đạo và đội ngũ quản lý có nhiệm vụ cũng quan trọng không kém với việc truyền tải được những định hướng chiến lược ngắn gọn này thành các mục tiêu và kế hoạch công việc cụ thể. Chẳng hạn nếu công ty chứng khoán tuyên ngôn trở thành chuyên gia số một về thị trường tài chính thì các mục tiêu rất cụ thể của nó có thể sẽ là thị phần môi giới, thị phần cố vấn, đối tượng cố vấn, các thương vụ sáp nhập và mua lại có thể làm,...
Tầm nhìn doanh nghiệp (Vision) Tầm nhìn của doanh nghiệp là một phát biểu ngắn gọn, súc tích và có khả năng khích lệ tinh thần nhằm hướng tới một thành tựu trong tương lai. Tầm nhìn của doanh nghiệp đề cập tới phạm trù định hướng bao trùm và tư duy hướng về phía trước. Tuyên bố sứ mệnh (Mission Statement) Tuyên bố sứ mạng doanh nghiệp là thể hiện chi tiết quan điểm định hướng lãnh đạo và mục tiêu của doanh nghiệp. Tuyên bố sứ mệnh thường là câu viết ngắn và nêu chính xác mục tiêu và các thứ tự ưu tiên của doanh nghiệp. Các mục tiêu sẽ tiếp tục chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể và chỉ tiêu định lượng cần hoàn thành trong từng giai đoạn nhất định.
Chiến lược kinh doanh (Strategy) Là cụ thể hóa các mục tiêu, cách thức phân bổ nguồn lực, các bước triển khai - vận hành doanh nghiệp theo tuyên bố sứ mệnh để đạt đến tầm nhìn định hướng. | Ví dụ về tầm nhìn là: “SSI tuyên bố muốn trở thành mô hình tổ hợp các công ty tài chính với trục xương sống vận hành là hoạt động ngân hàng đầu tư hàng đầu tại Việt Nam.”
Quá trình truyền đạt cả nội dung và tinh thần xuống đội ngũ triển khai có ý nghĩa rất lớn. Sức mạnh và tính gắn kết của tổ chức thể hiện ở đây. Ta tạm lấy hình ảnh doanh nghiệp trụ sở cao 7 tầng, Giám đốc ngồi tầng 7 và để một kế hoạch hay yêu cầu của ông chuyển xuống bảng tin tầng một thì mất tròn 7 ngày, không cần biết trên tài liệu có chữ "Khẩn," trong khi đó hệ thống thương mại điện tử Amazon giao một cuốn sách qua DHL từ Mỹ sang Việt Nam mất tối đa là 3 ngày kể từ khi nhận đơn hàng qua mạng.
Vậy chúng ta lấy gì để biết một tầm nhìn như SSI hướng tới “ngân hàng đầu tư đi đầu Việt Nam” sẽ trở thành hiện thực? Đó là chính là việc xác định sứ mệnh và chiến lược dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời là năng lực triển khai. Nói gọn gàng là, một mặt cần quyết định chiến lược tốt, mặt khác thực hiện tốt. Việc thành lập SSIAM (Asset Managagement) là một ví dụ cho quyết định chiến lược, vừa là bước triển khai cụ thể theo tầm nhìn định hướng.
Nếu không có năng lực triển khai, các chiến lược doanh nghiệp trở thành thứ dành cho trang trí cho các cuộc “tán gẫu kinh doanh”. Năng lực triển khai ấy chịu ảnh hưởng đáng kể bởi một số nhân tố:
1. Tinh thần làm việc - hệ thống tinh thần chung, tính tuân thủ kỷ luật lao động và tính chuyên nghiệp vì chất lượng sản phẩm dịch vụ; 2. Văn hóa người lao động; 3. Năng lực đội ngũ (Kiến thức-Kỹ năng); 4. Tính rõ ràng và mạch lạc của chiến lược cũng như các kế hoạch triển khai và mục tiêu kinh doanh đã được cụ thể hóa.
Thứ tự phía trên là có chủ đích. Tinh thần làm việc và văn hóa tổ chức ảnh hưởng mạnh đến vận hành của bộ máy. Duy trì được tinh thần và văn hóa này đã có thể coi là đảm bảo quá nửa thành công. Tuy nhiên đây là việc khó, việc duy trì được phụ thuộc vào nhiều yếu tố cảm xúc và tinh thần, qua tính công bằng trong người lao động, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, khả năng chia sẻ và truyền thông rõ ràng trong nội bộ. Một thực tế của giai đoạn tái cấu trúc, chuyển đổi cơ chế và cổ phần hóa tiến tới niêm yết là các xung đột mà phần đông xoay quanh vấn đề lợi ích. Cụ thể hơn là vấn đề phân chia quyền sở hữu thể hiện qua số cổ phiếu mỗi cá nhân nắm giữ.
Ngắn hay dài? Kết luận thanh tra 16/10/2007 về vụ việc phân chia cổ phần tại Vinamilk khiến nhiều người nhận ra đây không còn là vấn đề của một doanh nghiệp, không là cá biệt. Khó có có thể nói ở nơi khác, trong những điều kiện tương tự, không xuất hiện những vấn đề như thế. Những vấn đề này xuất hiện, ăn sâu vào gốc rễ tinh thần người lao động, cứ âm ỉ và nếu không bị thanh tra phát hiện thì đến một ngày nào đó cũng sẽ bị bung ra, bắt đầu của “hiệu ứng domino” suy sụp hệ thống niềm tin - giá trị trong doanh nghiệp. Ở đây không nói đến giá trị vật chất mà là giá trị tinh thần.
Điều đáng nói là sau nhiều năm thai nghén, nằm gai nếm mật, tích lũy giá trị và thương hiệu, công sức của toàn thể đội ngũ quản lý cũng như nhân viên, đốc công cũng như công nhân, được cụ thể hóa bằng lượng vốn thu về sau IPO. Những người gắn bó đi theo GMD, REE, SSI, hay FPT, ... đều xứng đáng được hưởng trái ngọt như vậy. Lẽ ra trong thời điểm hùng mạnh nhất, có đủ vốn - tiềm lực tài chính, danh tiếng - uy tín xã hội,... tưởng chừng như tất cả đều rạng ngời, thì họ gặp phải vấn đề “chia sẻ”. Rủi ro ở chỗ nhiều lãnh đạo doanh nghiệp vốn chưa được trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết về quản trị xung đột và phân phối quyền lợi, họ cho rằng những việc này không thực sự quan trọng nên ít quan tâm, giảm mức ưu tiên cần thiết. Tuy nhiên nếu đặt lên bàn cân thì vấn đề phân bổ và chia sẻ quyền lợi dường như có sức nặng tương đối và có quan hệ chằng chịt với những công việc khác. Mặc dù vậy, sau nhiều lần làm quy hoạch chiến lược, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp sắp niêm yết, vẫn chưa hình dung hết các khía cạnh của vấn đề.
Khi đối mặt với vấn đề chia sẻ và phân bổ quyền lợi – thường là rất nhức đầu và chứa đựng nhiều thiên kiến – người chủ doanh nghiệp chắc chắn bối rối. Người này nhiều công lao, người kia nhiều năm tuổi nghề, người mới vào nhiệt huyết cam kết gắn bó, người đến tuổi chỉ đợi quyền lợi rồi nghỉ hưu… hàng loạt câu hỏi hóc búa cần giải đáp. Đối mặt với tình huống này, bản thân người chủ doanh nghiệp có hai lựa chọn. Hoặc tìm kiếm phương án giải quyết lâu dài qua một cơ chế chia sẻ lợi ích hay quyền chọn sở hữu cổ phần hợp tình hợp lý; hoặc giải pháp ngắn hạn, chỉ tính toán phần lợi riêng cho mình, những người thân tín. Hoặc chỉ tính lợi từ lần phát hành đầu tiên, hoặc tính toán đảm bảo thành công cho 10 lần phát hành tiếp theo. Chọn cách xử lý nào là thể hiện tầm nhìn ngắn hay dài hạn của chính doanh nghiệp.
Buffet cũng đành lướt sóng Nhà đầu tư dài hạn đương nhiên nhìn vào những chiến lược, những đặc điểm và hành vi có ảnh hưởng dài hạn của bản thân người chủ và đội ngũ quản lý – lãnh đạo. Ngoài ra họ còn dựa vào đâu để có những quyết định mua và nắm giữ, gắn đồng vốn của mình với tương lai doanh nghiệp? Câu trả lời là những phân tích khách quan, những báo cáo đánh giá doanh nghiệp có độ tin cậy cao.
Bản thân nhà đầu tư, dù ngắn hạn hay dài hạn, khi sử dụng đồng tiền của mình để mua cổ phần/cổ phiếu doanh nghiệp đồng nghĩa với việc họ bỏ tiền để được nắm những thông tin trọng yếu của doanh nghiệp. Những thông tin thực sự vào bản chất, không phải chỉ biết doanh nghiệp sẽ phát hành thêm bao nhiêu cổ phiếu mà là phát hành để làm gì và sử dụng ra sao, hiệu quả đo thế nào,… Chỉ khi nắm được những thông tin trọng yếu này, họ mới có thể thực sự định vị tương lai của doanh nghiệp, đồng nghĩa với xác định vị trí của mình và có quyết định theo đuổi tiếp hay không.
Thiếu vắng những hệ thống cung cấp phân tích, đánh giá khách quan và tin cậy, thiếu vắng những kênh thông tin trọng yếu và chính thống, nhà đầu tư dù muốn cũng khó có được quyết định đầu tư dài hạn tỉnh táo. Giải pháp nhiều người lựa chọn, do đó, là quay trở về lướt sóng theo tin đồn và xu thế thị trường. Trong điều kiện như thế, Warren Buffett đến Việt Nam cũng đành lựa chọn lướt sóng.
Bản quyền © Lưu Quý Phương - SAGA (11/2007) www.saga.vn
|